Author Topic: Cố giảng viên Nguyễn Văn Ba (tự Tấn) (1931-1971)  (Read 4029 times)

hoahaomedia

  • Newbie
  • *
  • Posts: 4
    • View Profile
Sơ lược tiểu sử
ÔNG NGUYỄN VĂN BA (TỰ TẤN)
Cố Trưởng ban Phổ thông Giáo lý tỉnh Phong Dinh



      Ông Nguyễn Văn Ba tên thật là Tấn, đạo hiệu Giác Quang, ông sinh năm Tân Mùi (1931) tại xã Thới Long, quận Phong Phú, tỉnh Phong Dinh - nay là phường Long Hưng, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ - trong một gia đình bần nông. Thân sinh là ông Nguyễn Văn Chơn, thân mẫu là bà Huỳnh Thị Trong. Ông có tất cả là 6 chị em, 4 trai, 2 gái, những chị em của ông nay đều còn sống tại địa phương.
      Vì gia đình nghèo, đông chị em nên ông chỉ học hết lớp 3 trường làng rồi phải rời ghế nhà trường về phụ giúp gia đình lo việc đồng áng.
      Năm 1947, thực dân Pháp thất bại nặng nề trên bán đạo Đông Dương, toàn dân đứng lên kháng chiến chống Pháp. Ông chỉ mới 17 tuổi cũng tham gia vào nghĩa quân Đại đội 17 do ông Lê Văn Đen chỉ huy. Đến năm 1951 Đại đội kéo về với tướng Lê Quang Vinh, ông chiến đấu rất kiên cường và dũng cảm, lần lần được thăng cấp đại đội trưởng rồi tiểu đoàn phó cho ông Lê Văn Niệm.
     Năm 1954, Ngô Đình Diệm chấp chánh, mở chiến dịch tiêu diệt giáo phái, bộ đội nghĩa quân Hòa Hảo cũng khôn ngoại lệ nên tướng Lê Quang Vinh ra lịnh rút vào bưng biền, vì bị đàn áp dữ dội nên nghĩa quân phải chôn vũ khí và tản rả để lánh nạn. Lúc này ông lui về quê nhà ẩn náu, đến ngày 18 tháng 5 năm 1955 ông bị bắt và bị tra tấn dã man rồi bị giam vào khám đường Cần Thơ, 5 tháng sau ông mới được trả tự do. Khi về ông hoạt động ngâm lại nên bị bắt và giam tại Thốt Nốt, ở nơi đây, ông thoát ra được trại giam nhờ có người giải cứu. Lúc bấy giờ tướng Lê Quang Vinh bị đem ra pháp trường hành quyết, ông chán ngán cuộc đời là giả tạm, là mộng ảo nên giác ngộ trở về con đường tụ niệm: thế phát qui y, từ bỏ lợi danh, xa lìa tình ái, rày đây mai đó, học hỏi kinh kệ và giáo pháp để tu hành.
      Quãng thời gian từ 1955 đến năm 1960 ông tu hành khổ hạnh ở núi Cấm cùng với hai người bạn thân là Năm Trình, cùng quê và ông Hai  Đầy ở Hào Lạc, đạo hiệu Giác Quang có lẽ có từ lúc ấy, nhưng sau đó Năm Trình về Thới Long, Hai Đầy về Hòa Lạc, còn ông đến Núi Voi, còn gọi là núi Kỳ Hương, xã Tú Tề, quận Tri Tôn, tình Châu Đốc – là huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, lúc nầy ông và các đồng đạo Tư Tùa, Hai Tiệm, Ba Chọn… là những người cùng tu với ông.
      Năm 1958, ông Lê Văn Niệm ra mặt với chính quyền nhà Ngô, được phong làm Quận trưởng quận Thuận Nhơn, tỉnh Phong Dinh, nhớ tình xưa nghĩa cũ ông Niệm có mời ông về làm Quận phó nhưng ông khước từ và chuyên tâm tu niệm.
      Năm 1961 ông trở lại quê hương, mang hình thức đầu tròn áo vuông đến chùa Phú Luông hốt thuốc nam trị bịnh miễn phí cho đồng bào và đồng đạo. Sau một thời gian ông bắt đầu để tóc lại và qui tụ một số đông đồng đạo phát động phong trào phóng thanh sấm giảng bằng loa thiếc, thành lập ban độc giảng; ông viết một số đề tài để đồng đạo hội thảo giáo lý, dấy lên phong trào tìm hiểu giáo lý, tu học rầm rộ. Chính nơi đây, vì ưu thời mẫn thế vào năm Giáp Thìn (1964) ông đã mượn cảnh qui đứng trên lưng hạc nơi chùa Phú Luông nên cảm tác bài “Vịnh qui hạc” trong đó có những câu:

“Hạc có cánh hạc bay mặc hạc,
Qui có giò qui lội mặc qui.
Cớ sao hạc đứng lưng qui,
Thấy điều tráo chác gẫm thì lạ thay…
… Trời cao bể rộng bao la,
Muôn loài vạn vật cũng là đồng nhau.
Nghe qui hạc đổi trao tâm sự,
Tâm bần tăng lưỡng lự nghĩ suy.
Đời sao lắm kẻ vô nghì?
Muốn mình sung sướng ngồi thì bực trên…”

        Năm 1963 sau khi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cơ cấu Giáo hội được phục hoạt, đến năm 1967 sau khi đắc cử Trưởng ban Phổ thông giáo lý quận Phong Phú, ông hăng say mở nhiều khóa học đạo.
      Năm 1969 ông được đồng đạo tín nhiệm bầu vào chức Trưởng ban Phổ thông giáo lý tỉnh Phong Dinh, lúc nầy việc truyền bá giáo lý lan rộng khắp các tỉnh miền Tây, ông phải luân lưu nhiều nơi, ngoài việc truyền bá giáo lý tại tỉnh nhà, ông còn phụ giúp các khóa đạo nhiều nơi khi thì Giám đốc, lúc Giảng viên, khi Tổng giám thị. Ngoài ra ông còn phải đi thuyết giảng giáo lý ít khi được nghỉ…
      Ông phát nguyện trường trai khổ hạnh, lập nguyện ăn một ngày một bữa, mặc áo rách vá nhiều chỗ, đầu không đội nón, chân không mang dép, khi đi làm phận sự, ông chỉ mang trên vai mình một cái bị bằng vải đen trong đó chỉ có thêm một bộ đồ cũng cũ rách và vài vật dụng cá nhân. Về hạnh đầu đội trời, chân đạp đất ông có cảm hứng sáng tác nên bài thơ “Đội và đạp”:

“Đầu đội trời đội cả muôn loài,
Chân đạp đất đạp tan phiền não.
Đội nhân loại khỏi vòng sanh lão,
Đạp cho tan địa ngục trần gian.
Đội sanh linh đến cảnh niết bàn,
Đạp cho hết xích xiềng thế tục.
Dầu gặp cảnh gian truân câu thúc,
Chẳng sờn lòng trên bước hóa duyên.”

Còn hạnh mặc áo rách ông cũng diễn tả:

Như vầy diễm phúc cũng mấy lần,
Trên đời lắm kẻ trải trần thân.
Xó chợ, đầu đường cơn gió rét,
Mấy ai biết đến kẻ cô bần.
Mảng lo trau chuốt than huyễn giả,
Đường Tiên, cảnh Phật phải xa dần.
Áo rách lòng trong nào ai biết?
Thương đời mê mết cảnh bi tân.

(còn tiếp)
« Last Edit: May 13, 2011, 11:29:38 PM by hoahaomedia »