Author Topic: 21. LUC TU HONG DANH  (Read 1378 times)

ngọn đèn chơn lý

  • Global Moderator
  • Full Member
  • *****
  • Posts: 223
    • View Profile
21. LUC TU HONG DANH
« on: November 30, 2011, 01:49:59 AM »
Kính thưa quý ông bà cô bác!
ĐẾN VIỆC LỢI ÍCH NIỆM LỤC TỰ HỒNG DANH
Phàm làm việc chi dù nhỏ hay lớn, hễ thấy lợi ích thì người ta mới ham mới thích, mới phấn đấu làm tiếp tục nữa, cho dù có cực khổ vất vả gian lao đến đâu cũng không sờn lòng nản chí, miễn có lợi nhuận lợi ích cho mình là được rồi, như kẻ vì cầu sắc dục, phải chịu lặn lội trong đêm sương gió lạnh, băng đồng lướt bụi không kể hiểm nguy, để tìm đến chỗ hẹn hò. Lại như kẻ đánh cờ đánh bạc, vì say mê cầu thắng, mà bỏ cả việc ăn ngủ, quên cả nóng bức rét lạnh, có khi dám ngồi luôn đôi ba ngày đêm. Hạng phàm tình vì chút thị dục nhỏ cỏn con ở thế gian mà còn dám làm như thế; còn người tu chúng ta vì mục đích cao cả, cầu sanh Tây Phương thành Phật độ sanh, há lại không bằng những người ấy hay sao?
Thế nên, việc niệm Lục Tự Hồng Danh sẽ có được nhiều lợi ích ở hiện tại và tương lai như sau:
LỢI ÍCH Ở HIỆN TẠI.
Trước tiên: DỨT LÒNG SẦU KHỔ.
Niệm Lục Tự Hồng Danh lòng luôn an ổn, cho dầu có bao nhiêu chướng duyên nghịch cảnh dồn dập đưa đến, như nghèo đói bệnh tật hay gặp nhiều duyên trắc trở rắc rối khác, lòng mình vẫn thung dung tự tại như không có chuyện gì xảy ra. Lúc mình tưởng nhớ phật, luôn thấy lòng mình càng ấm áp hơn, càng hạnh phúc an lạc hơn, không có sự sầu khổ. Vì nghĩ rằng Đức Phật A Di Đà có thần thông quảng đại, phước đức vô biên, bổn nguyền rộng lớn, Ngài sẽ dang rộng cánh tay vàng từ bi che chỡ mình, giống như người con luôn được sự đùm bọc trong vòng tay yêu thương của cha mẹ.
Việc ấy Đức Thầy đã cho biết:     
“…Niệm chữ A Di dẹp lòng sầu,
Rán trì kinh kệ hoặc mau lâu.
Cũng có ngày kia ta giải thoát,
Giải thoát thì ta rõ đạo mầu…”

     Kế đến: TÀ QUỶ XA LÁNH.
Người tu Tịnh Độ, thiết tha trì niệm Lục tự Hồng Danh sẽ có công năng xua đuổi tà quỷ ra khỏi thân tâm mình. "Tà ma quỷ mị" là những loài thường rình rập đến cướp công đức phước báu, giết hại mạng sống trí huệ của nhà tu. "Tà Quỷ" cũng chỉ cho những duyên phá hoại đạo đức, làm cho nhiều người đang tu thối chuyển đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác rồi kết cuộc bị sa đọa. Thế nên, những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết Bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa lạc trong vòng sống chết luân hồi, là Ma sự. Người niệm lục tự hồng danh càng lâu, đạo hạnh càng cao, mới thấy rõ việc ma quỷ càng hung hiểm cường thạnh.
Xin hỏi thiệt quý ông bà cô bác có ai sợ ma quỷ không? Ma có nội ma và ngoại ma: Nôi Ma chính là những phiền não tham sân si mạn nghi ác kiến cho đến các thứ ma: năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới ở trong lòng của mọi người, nó luôn trực chiến hằng giờ hằng phút cướp lấy công đức tu hành của chúng ta. Tất cả đều do lòng mê muội điên đảo sanh ra, nên phải dùng tâm chân chánh sáng suốt giác ngộ niệm lục tự hồng danh mà giải trừ.
Trong quyển Niệm Phật Thập Yếu, Hòa Thượng Thích Thiền Tâm có kể lại câu chuyện như sau: Ở ngôi chùa trên núi Chung Nam bên Trung Hoa, có một vị sư đang tham thiền niệm phật, nhân khi trời lạnh bụng đói, động niệm tưởng ăn; bỗng thấy một thiếu phụ bưng thức ăn đến cúng dường. Thiếu phụ quì sớt đồ ăn vào bát, thỉnh sư nên dùng liền kẻo nguội lạnh, mất ngon. Sư vì đói muốn thọ dụng ngay, nhưng nghĩ chưa đến giờ thọ trai, nên nhẫn nại bảo hãy tạm để một bên, chờ đúng giờ rồi sẽ ăn. Thiếu phụ nghe nói, có vẻ hờn giận bỏ đi. Giây lâu sau đúng ngọ, sư giở bát ra thấy trong ấy toàn là dòi bò lúc nhúc. Chừng ấy ông mới tỉnh ngộ, biết vừa động sanh vọng niệm, liền rước lấy cảnh ma; may nhờ có chút định lực mới khỏi ăn đồ dơ và phạm giới sát.
Phiền não tham sân si chính là Nội ma, nếu không chế phục được, tất sẽ chiêu cảm  Ngoại ma ở ngoài đến phá. Ngoại Ma là những loài quỉ thần yêu mị, bàng môn ngoại đạo hay Thiên Ma ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Khi hành giả tu đạt đến mức khá cao, tâm quang phát lộ, ánh sáng chiếu thấu lên cõi trời Tha Hóa làm cho cung điện Ma Vương rung động, chúng liền phát giác và vì sợ e cho có người giải thoát, quyến thuộc mình sẽ bị giảm bớt đi, nên tìm cách phá hoại. Nếu hành giả có một niệm sơ hở mê lầm, liền bị chúng ám nhập, xúi giục làm những điều trái đạo đức, đời tu kể như đã hư tàn. Chúng có thể hóa ra những hình tướng nam nữ xinh đẹp để khích động lòng ái dục tham nhiễm, nếu không khéo cảnh giác tất sẽ bị cuốn lôi triền phược. chúng ta cứ an nhiên chuyên tâm trì niệm lục tự hồng danh tất sẽ thấy hiệu quả.
* Hòa Thượng Thích Thiền Tâm có kể thêm câu chuyện rằng: có một vị sư đang tham thiền niệm phật trong non, thấy mình lẻ loi cô quạnh, nên sanh vọng tưởng muốn được một ít người cùng ở cho vui. Vừa mới suy nghĩ, bỗng đâu có bà lão dẫn hai cô gái trẻ đẹp, bảo nhà ở dưới làng cặp chân núi, tìm đến am tranh cầu xin dạy đạo. Vị tăng ban sơ không nghi ngờ, liền thuyết pháp khai thị. Tới lui như thế lâu ngày, một hôm bà lão thưa bạch xin cho hai cô gái làm thị giả lo việc giặc giũ cơm nước để sư đỡ nhọc. Sư nghe nói thoáng sanh lòng ngờ lạ, liền nghiêm trách từ chối. Ba người đó có vẻ hờn thẹn bỏ đi. Sư lén theo dõi qua một khúc quanh bỗng chợt mất bóng, đến xem thì đã cùng đường, lại không có nhà cửa chi cả, chỉ thấy ba gốc cổ thụ, một to hai nhỏ. Ông suy nghĩ biết đây là yêu tinh cổ thụ làm quái; muốn đem búa chặt đốn hoặc nổi lửa thiêu đốt để dứt trừ hậu hoạn. Vừa nghĩ đến đó bỗng thấy ba người hiện ra cầu sám hối và xin tha mạng. Thế nên biết, tâm yên cảnh lặng, vọng khởi ma sanh, người tu phải ghi nhớ điều này.
Trong Luận Khởi Tín, Mã Minh Đại Sĩ từng khuyên dạy: "Trong khi hành giả tịnh tu, thường bị các thiên ma, ngoại đạo, hoặc quỉ thần làm não loạn. Chúng hiện các hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc tướng nam nữ xinh đẹp mong quyến rũ. Có khi chúng hiện thân Phật, Bồ Tát hay chư Thiên đủ các tướng tốt trang nghiêm; hoặc nói các môn Đà Ra Ni; hoặc nói pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; hoặc nói các pháp bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, khen ngợi cảnh không oán không thân, không nhân không quả, cứu cánh rỗng không vắng lặng, bảo đó là chân Niết Bàn... Hoặc chúng làm cho hành giả biết đời trước của mình, suốt việc quá khứ vị lai, thấu rõ tâm niệm mọi người, cho đến được biện tài vô ngại. Chúng khiến người tu tham luyến danh lợi thế gian, tánh tình thất thường, hay giận, hay cười, ưa ngủ, nhiều bịnh, dễ xót thương xúc cảm, có khi rất tinh tấn, lắm lúc lại trễ nãi biếng lười. Hoặc chúng xúi nhà Đạo sanh tâm nghi ngờ không tin, nhiều lo nghĩ, bỏ pháp tu căn bản trở lại tu các tạp hạnh, đắm nhiễm những việc triền phược ở thế gian. Hoặc chúng làm cho hành giả được một ít phần tương tợ như Tam Muội, có thể ở trong định từ một ngày cho đến bảy ngày, thân tâm an vui không biết đói khát; song đó là do sức tà chứng của ngoại đạo gia bị, không phải thật Tam Muội. Hoặc lại khiến cho hành giả ăn uống không chừng độ, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi luôn. Khi gặp những cảnh như trên, người tu phải dùng trí huệ quán sát, gắng giữ chánh niệm, đừng sanh tâm chấp trước mà lạc vào lưới tà. Phải kiên trì như thế mới xa lìa được ma chướng."
   Đối với các loại tà quỷ, Đức Thầy có nhắc nhở cho mọi người biết trước.
“…Từ đây sắp đến thảm thê,
Con lìa cha mẹ vợ kia xa chồng.
Tới chừng đến việc ngóng trông,
Trách rằng trời Phật không lòng từ bi.
Di Đà lục tự rán ghi,
Niệm cho tà quỷ vậy thì dang ra…”
Sau cùng: NGHIỆP CHƯỚNG TIÊU TAN
Người niệm sáu chữ Hồng Danh Nam Mô A Di Đà Phật, có công năng tiêu trừ chướng nghiệp, sẽ làm cho những chướng nghiệp dần dần tiêu tan, như phiền não chướng, nghiệp chướng và báo chướng, mà sức nghiệp chướng lại nặng nề nguy hiểm hơn.
Trong kinh phật đã bảo: “Chí tâm niệm phật nhứt thinh, năng diệt bát thập ức kiếp sanh tử trọng tội”. Nghĩa là: Chỉ thành tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật, sẽ có công năng diệt trừ tội chướng sanh tử nặng nề tám mươi ức kiếp.
Tại sao khi chưa tu thì chẳng có chi, đến lúc tu hành càng cao lại thường gặp nhiều chướng nạn? Sở dĩ chư phật và chư đại Bồ Tát có mặt trong cõi đời là do cái nguyện độ sanh mà hiện. Còn chúng ta sở dĩ có mặt ở đây là do cái nghiệp húc phải sanh về đây để trả nghiệp. Do bởi chúng ta còn là phàm phu lại sanh trong thời mạt pháp, tất nhiên phần đông chướng duyên đều nặng. Nếu chúng ta nghiệp nhẹ, thì đã sanh vào thời tượng pháp hoặc chánh pháp rồi. Nhưng không phải do tu hành mà phát sanh ra chướng nạn, chính là do sức chuyển nghiệp, chuyển quả báo nặng thành quả báo nhẹ, chuyển quả báo đời sau thành quả báo hiện tại. Giả sử ta có mười phần nghiệp chướng, do công đức tu nên tiêu trừ được bảy phần, còn lại ba phần. Đáng lẽ quả báo ấy đến sau mới trả, nhưng nhờ sức tu niệm, nên chỉ chịu quả nhẹ trong kiếp này để mau được vãng sanh giải thoát.
Về nghiệp sát, như Giới Hiền luận sư tiền kiếp là một vị quốc vương đem binh đi đánh dẹp các nơi, tạo nghiệp sát quá nhiều, đáng lẽ đến đời này sau khi hưởng phước rồi chết, sẽ phải bị đọa vào địa ngục. Nhưng nhờ luận sư chí tâm tu hành trì niệm lục tự hồng danh và hoằng dương Phật pháp, nên mỗi ngày ông bị một cơn bịnh như có nhiều lưỡi gươm vô hình đâm chém trong thân. Như thế trải qua hai năm bịnh nghiệp mới dứt. Do duyên đó mà luận sư tiêu được nghiệp địa ngục, sanh lên cõi Trời Đâu Suất. Lại như ông Ngô Mao tiền nhân cũng tạo nghiệp sát, đáng lẽ phải đọa làm heo bảy kiếp cho người mổ giết. Nhưng nhờ ông trường trai niệm Phật, nên đến khi thọ số mãn, bị giặc đâm bảy dao trả nghiệp xong một lần, rồi được vãng sanh về Cực Lạc, Đến như Sư Tử tôn giả bên Ấn Độ và Thần Quang nhị tổ ở Trung Hoa tuy đều đắc đạo, nhưng ngày kết liểu vẫn phải an nhiên chịu chém để đền nợ mạng. Lại như ngài Mục Kiền Liên tuy đắc quả A La Hán, thần thông bậc nhất trong hàng Thanh Văn, nhưng vì muốn trả túc nghiệp, nên để bọn hung đồ dùng đá gậy liệng đánh cho đến chết, thi hài lại bị vùi trong hầm phẩn. Đức Phật thấy thế thương xót, sai đệ tử đem thây Ngài lên tắm rửa sạch sẽ, xoa ướp dầu thơm, rồi đem đi trà tỳ thâu lấy xá lợi.
Cho nên trên đường tu đâu biết ai là toàn vẹn, ta không nên tự mãn mà khinh thường người. Bởi nghiệp trái của chúng sanh rất nhiều, có khi đền trả hết lớp này lại đến lớp khác. Nhiều vị xem dường rảnh rang không oan trái, nhưng chưa hẳn là không có, chỉ vì chưa đến thời tiết nhân duyên đền trả đó thôi. Muốn dứt oan khiên ta phải an nhẫn sám hối và cố gắng tu hành trì danh lục tự để diệt trừ chướng nghjiệp. Thi hào Nguyễn Du có lẽ đã tin sâu về thuyết nghiệp báo và sự cải tạo nhân quả của nhà Phật, nên mới có câu:
“…Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Có trời mà cũng có ta…”

Năm Tân Tỵ (1941) Lúc Đức Thầy ở Bạc Liêu, Ông PHAN-CHÂU-BÁ  ở Long-Xuyên có xuống thăm Thầy, ông than trách phận mình mà hỏi Đức Thầy:
“Tang-bồng nợ ấy trả sao xong?
   Chí dốc từ-bi cổi tấc lòng.
Nhơn-đạo còn mang chưa xử trọn,
   Nghĩ sao giải-thoát nợ tang-bồng?”
      Đức Thầy liền đáp họa lại:
“…Đành rằng nợ thế trả chưa xong,
Mà biết ăn năn sửa lấy lòng.
Niệm chữ Di Đà tan chướng nghiệp,
Thuyền từ Thầy rước lại non bồng…”