Author Topic: SÂM GIẢNG THI VĂN  (Read 3136 times)

ngọn đèn chơn lý

  • Global Moderator
  • Full Member
  • *****
  • Posts: 229
    • View Profile
SÂM GIẢNG THI VĂN
« on: January 31, 2013, 07:20:24 AM »




-19-


THAY  LỜI  TỰA
                          
 Sứ-mạng  của  Đức  Thầy
                  (do  chính  tay Ngài  viết)
Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, vì thời-cơ đã đến, lý Thiên-Đình hoạch-định, cuộc nguy-cơ thảm-họa sắp tràn lan. Ta đây tuy không thể đem phép huệ-linh mà cứu an  tai-họa chiến-tranh tàn-khốc do loài người tàn-bạo gây nên, nhưng mà thử nghĩ: Sinh trong vòng đất Việt-Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa-cầu lăn-lộn mấy phen, tùy cơ-pháp chuyển kiếp luân-hồi ở nơi hải-ngoại để thu-thập những điều đạo-học kinh-nghiệm huyền-thâm, lòng mê-si  đã diệt, sự vị-kỷ đã tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều mãi sinh-cư nơi đất Việt. Những tiền kiếp dẫu sống cũng là dân quan đất Việt, dẫu thác cũng quỉ thần đất Việt chớ bao lìa. Những kiếp  gần đây, may-mắn gặp minh-sư, cơ truyền Phật pháp, gội-nhuần-ân đức Phật, lòng đà quảng-đại từ-bi, hềm vì nỗi cảnh quốc-phá gia-vong, máy huyền-cơ đã định lòng thương trăm họ vướng cảnh đồ lao, chi xiết xót-thương  chúng-sanh vạn khổ.
   Nghĩ lúc còn làm người trong biển tục, lăn-lộn chốn mê-đồ mà chẳng quản thân giúp thế cứu dân, vong thân vị quốc, huống chi nay cơ-mầu đà thấu tỏ, sớm chiều hầu chơn Phật nghe kinh, ngao du tứ-hải, dạo khắp Tiên-bang, cảnh an-nhàn của người liễu-đạo, muôn ngày vô sự, lóng sạch phàm-tâm, sao chẳng ngồi nơi ngôi vị hưởng quả bồ-đề  trường thọ mà còn len-lỏi xuống chốn hồng-trần, đặng chịu cảnh chê khen? Vì lòng từ-ái chứa-chan, thương bách-tính tới hồi tai-họa. Phật-Vương đà chỉ rõ máy diệu-huyền chuyển lập hội Long-Hoa, chọn những đấng tu-hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện-căn để giáo truyền Đại-Đạo, định ngôi phân thứ gây cuộc Hòa-Bình cho vạn quốc chư  bang.
   






















-20-
Thiên-Tào  đà xét định, khắp chúng sanh trong thế-giới trong cái buổi Hạ-Nguơn nầy, say-mê vật-dục, chìm-đắm trong biển lợi-danh, gây nên nghiệp-quả, luật trời đà trị tội, xét kẻ thiện-căn thì ít, người tội ác quá nhiều, chư Phật mới nhủ lòng từ-bi cùng các vị Chơn-Tiên lâm phàm  độ thế, trước ra công cứu khổ, sau chỉ rõ cơ-huyền, khuyên  kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh thì mới  mong Thiên-Đình ân xá bớt tội căn để kíp đến Long-Hoa chầu Phật, trước biết rõ luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật pháp nhiệm mầu, kiến diện bậc Chơn-Sư, tu-hành mau đắc quả, sau làm dân Phật-Quốc hưởng sự thái-bình, bởi đời nầy pháp-môn bế-mạc, Thánh-đạo trăn-vu người tâm-trí tối đen, đời lắm Ma-Vương khuấy-rối. Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi quốc-độ nào thì cũng phải trở về quốc-độ ấy mà trợ-tế nhân-dân; vì thể lòng từ-bi bác-ái cùng thù-đáp những linh-hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu-hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, Ta hóa-hiện ra đời cứu-độ chúng-sanh. Tuy là nhơn-dân mới rõ pháp mà tưởng rằng Ta thượng xác cỡi đồng chớ có dè đâu chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra trợ thế. Nên phương-pháp của Ta tùy trình-độ cơ cảm của Tín-nữ Thiện-nam, trên thì nói Phật-pháp cho kẻ có lòng mộ-Đạo qui căn, gây gốc thiện-duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền-diệu của Tiên-gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ-bi của Chư Vị với Trăm Quan, thảm-thiết lê-dân lầm-than thống-thiết, mà lời lành nghe tựa hồ như nhớ như quên, nên kẻ xa-xôi từ-văn chẳng tới, người láng-diềng tiếng kệ nhàm tai. Đến trung tuần tháng tám, Ta cùng Đức-Thầy mới tá hiệu Khùng Điên, mượn bút  mực tiết-lộ lấy Thiên-cơ, truyền cho kẻ xa gần đều rõ biết hầu ăn-năn cải quá làm lành, còn kẻ chẳng tỉnh tâm, sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên không chỉ bảo.
   Vẫn biết đời lang-sa thống-trị, phép nước nghiêm-hình, dân chúng nếu yêu thương sẽ lắm điều hiềm-khích; nhưng mà Ta nghĩ nhiều tiền-kiếp Ta cũng hy-sinh vì Đạo, nào quản xác thân. Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm-tục, song vì tình cốt-nhục tương thân, cũng ủng-hộ chở-che cho xác phàm bớt nỗi cực hình.
                Bạc-Liêu, ngày 18-5 Nhâm Ngũ (1942).












            -25-
QUYỂN THỨ NHỨT
SẤM GIẢNG
Khuyên Người Đời Tu-Niệm
          
   Đây là quyển thứ nhứt mà Đức
   Thầy đã viết trong khoảng năm
                     Kỷ-Mão (1939) tại Hòa-Hảo (912 câu)
Hạ-nguơn nay đã hết đời,
002   Phong-ba biến-chuyển đổi-dời gia-cang.
Năm Mèo Kỷ-Mão rõ-ràng,
004   Khắp trong trần-hạ nhộn-nhàng xiết chi.
Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
006   Bá-gia khổ-não vậy thì từ đây.
Cơ trời thế cuộc đổi xây,
008   Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm-gian.
Thấy đời ly-loạn bất an,
010   Khắp trong các nước nhộn-nhàng đao-binh.
Kẻ thời phụ nghĩa bố-kình,
012   Người thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai.
Nên Điên khuyên-nhủ bằng nay,
014   Xin trong lê-thứ ngày rày tỉnh tâm.
Cơ thâm thì họa diệc thâm,
016   Nào trong sách sử có lầm ở đâu.
Người khôn nghe nói càng rầu,
018   Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
020   Khắp trong bá-tánh hiểm-nghèo đáng thương.
Điên nầy vưng lịnh Minh-Vương,
022   Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
Thấy trong bá-tánh phàm-trần,
024   Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.

















-26-
Mặc ai bàn tán gần xa,
026   Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Kẻ xa thì mến đức-ân,
028   Làm cho người gần ganh-ghét khinh-khi.
Nam mô, mô Phật từ-bi,
030   Miệng thì  niệm Phật lòng thì tà-gian.
Khắp trong bá-tánh trần-hoàn,
032   Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên.
Điên nầy xưa cũng như ai,
034   Vào các ra đài tột bực giàu-sang.
Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng,
036   Bèn lên ẩn-dật lâm-san tu-trì.
Nhờ Trời may-mắn một khi,
038   Thẩn-thơ lại gặp Đức Thầy Bửu-Sơn.
Cúi đầu Điên tỏ nguồn-cơn,
040   Động lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,
042   Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ.
Chuyện nầy thôi nói sơ-sơ,
044   Để rộng thì giờ nói chuyện chơn-tu.
Dương-trần kẻ trí người ngu,
046   Ham võng ham dù danh-lợi xuê-xang.
Cờ đà đến nước bất an,
048   Chẳng lo tu-niệm tham-gian làm gì.
Phật, trời thương kẻ nhu-mì,
050   Trọng cha, yêu Chúa kính vì  tổ-tông.
Ngồi buồn nói chuyện bông-lông,
052   Khắp trong trần-hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng nào mới đặng thảnh-thơi,
054   Dậu Phật ra đời thế-giới bình-yên.
Điên nầy Điên của Thần-Tiên,
056   Ở trên Non-Núi xuống miền Lục-Châu.
Đời còn chẳng có bao lâu,
058   Rán lo tu-niệm đặng chầu Phật-Tiên.
















-27-
Thế-gian ít kẻ làm hiền,
060   Nhiều người tàn-bạo làm phiền Hóa-Công.
Thế-gian chuyện có nói không,
062   Đến hội Mây-Rồng thân chẳng toàn thây.
Việc đời đến lúc cấn-gay,
064   Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương-trần tội ác liên-miên,
066   Sau xuống huỳnh-tuyền Địa-ngục khó ra.
Điên nầy nói việc gần xa,
068   Đặng cho lê-thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm-phù,
070   Khỏi sa Địa-ngục ngao-du Thiên-đài.
Đường đời chẳng có bao dai,
072   Nên viết một bài cho bá-tánh coi.
Tuồng đời như pháo châm ngòi,
074   Bá-gia yên-lặng mà coi Khùng nầy.
   Khùng thời ba Tớ một Thầy,
076   Giảng-dạy dẫy-đầy rõ việc Thiên-cơ.
   Điên đây còn dại còn khờ,
078   Yên-lặng như tờ coi chúng làm sao.
   Bá-gia kẻ thấp người cao,
080   Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
   Bây giờ giả dạy giả ngu,
082   Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.
   Lúc nầy kẻ ghét người ưa,
084   Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.
   Dương-trần biếm-nhẻ gần xa,
086   Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
   Ngồi buồn nhớ chuyện xa-xăm,
088   Dạo trong Bảy-Núi cười thầm sư-mang.
   Nói rằng lòng chẳng tham sang,
090   Sao còn ham của thế-gian làm gì.
   Việc nầy thôi quá lạ kỳ,
092   Cũng trong Phật-Giáo sao thì chê khen.
   Lúc nầy tâm trí rối beng,
094   Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia.
   Hết gần rồi lại tới xa,
096   Dân-sự nhà nhà bàn tán cười chơi.
   











-28-
Chuyện nầy cũng lắm tuyệt-vời,
098   Giả như Hàn-Tín đợi thời lòn trôn.
   Đến sau danh nổi như cồn,
100   Làm cho Hạng-Võ mất hồn mấy khi.
   Chuyện xưa thanh-sử còn ghi,
102   Khen anh Hàn-Tín vậy thì mưu cao.
   Chuyện đời phải có trước sau,
104   Điên Khùng khờ dại mà cao tu-hành.
   Bá-gia phải rán làm lành,
106   Niệm-Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.
    Thương đời trong dạ chẳng yên,
108   Khắp trong lê-thứ thảm phiền từ đây.
   Ngày nay thế-cuộc đổi xây,
110   Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
   Mảng theo danh-lợi ốm-o,
112   Sẵn của hét-hò đứa ở người ăn.
   Đừng khi nhà lá một căn,
114   Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
   Giàu sang như nước trên nguồn,
116   Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
   Cửu-Huyền Thất-Tổ chẳng thờ,
118   Để thờ những Đạo ngọn cờ trắng phau.
   Dương-trần bụng dạ nhiều màu,
120   Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ-suy.
   Lời xưa người cổ còn ghi,
122   Những việc lạ-kỳ nay có hay chưa?
   Chưa là với kẻ chẳng ưa,
124   Chớ người tâm-đạo biết thừa tới đâu.
   Bá-gia mau kíp lo-âu,
126   Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
   Việc đời nói riết thêm nhây,
128   Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
     Mèo kêu bá-tánh lao-xao,
130   Đến chừng rồng rắn màu đào chỉn ghê.
   Con ngựa lại đá con dê,
132   Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian lao.














-29-
   Khỉ kia cũng bị xáo-xào,
134   Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
   Nói ra nước mắt rưng rưng,
136   Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung.
   Việc đời nói chẳng có cùng,
138   Đến sau mới biết đây dùng kế hay.
   Bây giờ mắc việc tà-tây,
140   Nên mới làm vầy cho khỏi ngại-nghi.
   Thiên-cơ số-mạng biết tri,
142   Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi?
   Những người giả đạo bồi-hồi,
144   Còn chi linh-thính mà ngồi mà nghe.
   Việc đời như nước trong khe,
146   Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
   Điên nầy nối chí theo Khùng,
148   Như thể dây dùn đặng cứu bá-gia.
   Sau nầy kẻ khóc người la,
150   Vài ba năm nữa biết mà tà-tinh.
   Điên biết chẳng lẽ làm thinh,
152   Nói cho bá-tánh mặc tình nghe không.
    Việc Điên, Điên xử chưa xong,
154   Lục-Châu chưa giáp mà lòng ủ-ê.
   Người nghe đạo lý thì mê,
156   Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.
   Thấy nghèo coi thể rác-rơm,
158   Rồi sau mới biết rác-rơm của Trời.
   Vì Điên chưa đến cái thời,
160   Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.
   Từ đây sắp đến thảm-thê,
162   Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
   Tới chừng đến việc ngóng-trông,
164   Trách rằng Trời Phật không lòng từ-bi.
   Di-Đà lục-tự rán ghi,
166   Niệm cho tà-quỉ vậy thì dang ra.
   Khuyên đừng xài phí xa-hoa,
168   Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.














-30-
   Đừng khinh những kẻ đui-mù,
170   Đến sau sẽ khổ gấp mười mù-đui.
   Đời nay xét tới xem lui,
172   Chừng gặp tuổi Mùi bá-tánh biết thân.
   Tu-hành sau được đức-ân,
174   Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
176   Điên gay chèo quế dạo miền Lục-Châu.
   Tới đâu thì cũng như đâu,
178   Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
   Bá gia ai biết thì ưa,
180   Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên-cơ.
   Khi già lúc lại trẻ thơ,
182   Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
   Đi nhiều càng thảm càng phiền,
184   Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
   Tay chèo miệng lại hát ca,
186   Ca cho bá-tánh biết đời loạn-ly.
   A-Di-Đà Phật từ-bi,
188   Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng nầy.
   Từ ngày thọ giáo với Thầy,
190   Dẹp lòng vị-kỷ đầy lòng yêu dân.
   Ngày nay chẳng kể tấm thân ,
192   Miễn cho bá-tánh được gần Bồng-Lai.
   Đời nầy vốn một lời hai,
194   Khắp trong trần-hạ mấy ai tu-trì.
   Đời nầy giành-giựt làm chi,
196   Tới việc ly-kỳ cũng thả trôi sông.
   Thuyền đưa Tiên-Cảnh Non-Bồng,
198   Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
    Cứ lo làm việc tà-tây,
200   Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
   Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,
202   Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian.
   Thấy đời mê-muội lầm-than,
204   Ăn bạ nói càn tội-lỗi chỉn ghê.
   Chữ tu không phải lời thề,
206   Mà không nhớ đến đặng kề Tiên-Bang.
   











-31-
Nói nhiều trong dạ xốn-xang,
208   Cùng hết xóm làng tàn-ác nhiều hơn.
   Thầy chùa như thể cây sơn,
210   Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
   Buồn thay cho lũ ác-tăng,
212   Làm điều dối thế cho hư Đạo mầu.
   Di-Đà Phật-Tổ thêm rầu,
214   Giận trong tăng-chúng sao lừa-dối dân.
   Có thân chẳng liệu lấy thân,
216   Tu theo lối cũ mau gần Diêm-Vương.
   Bá-gia lầm lạc đáng thương,
218   Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
   Dương trần nhiều kẻ ham sân,
220   Cứ theo biếm-nhẻ xa gần người Điên.
Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
222   Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
   Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
224   Buồn cho bá-tánh hết mù tới đui.
   Có chi mà gọi rằng vui,
226   Khắp trong bá-tánh gặp hồi gian-lao.
   Từ đây hay ốm hay đau,
228   Rán tu đem được Phật vào trong tâm.
   Lời hiền nói rõ họa thâm,
230   Đặng cho bá-tánh tỉnh tâm tu-hành.
   Ngày nay Điên mở Đạo lành,
232   Khắp trong lê-thứ được rành đường tu.
   Nay đà gần cuối mùa thu,
234   Hết ngu tới dại công-phu gần thành.
   Xác trần đạo-lý chưa rành,
236   Mấy ai mà được lòng thành với Điên.
   Điên nầy sẽ mở xích-xiềng,
238   Dắt-dìu bá-tánh gần miền Tiên-bang.
   Không ham danh-lợi giàu-sang,
240   Mong cho bá-tánh được nhàn tấm thân.
   Thường về chầu Phật tấu-trần,
242   Cầu xin Phật-Tổ ban lần đức ơn.
   Nay đà bày-tỏ nguồn cơn,
244   Cho trong trần-hạ thiệt hơn tỏ-tường.
 











-32-
   Phật, Trời thấy khổ thời thương,
246   Muốn cho lê-thứ thường-thường làm nhơn.
   Đừng ham tranh-đấu thiệt hơn,
248   Tu-niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi!
   Hồng-trần biển khổ thấy rồi,
250   Rán tu nhơn-đạo cho tròn mới hay.
   Đừng ham nói đắng nói cay,
252   Cay đắng sau nầy đau-đớn sầu-bi.
   Tu-hành tâm trí rán trì,
254   Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.
   Đừng làm tàn-ác ham gây,
256   Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.
   Dương-trần lắm chuyện đôi co,
258   Phải dẹp vị-kỷ mà lo tu-hành.
   Kệ kinh tưởng-niệm cho sành,
260   Ngày sau thấy Phật đành-rành chẳng sai.
   Lúc nầy thế-giới bi-ai,
262   Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
   Mấy lời khuyên-nhủ chẳng lầm,
264   Từ đây đạo-hạnh được mầm thanh-cao.
   Hồng-trần lao-khổ xiết bao,
266   Khuyên trong lê-thứ bước vào đường tu.
Xưa nay đạo-hạnh quá lu,
268   Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
   Mặc tình kẻ ghét người ưa,
270   Điên chẳng nói thừa lại với thứ-dân.
   Quan-trường miệng nói vang rân,
272   Mà tâm dính chặt hồng-trần bụi nhơ.
   Buồn đời nên mới làm thơ,
274   Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
   Người đời lòng dạ bất tri,
276   Trông cho làm bịnh dị-kỳ nó coi.
   Dương-gian chậu úp được voi,
278   Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
   Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
280   Việc tu bá-tánh bắn lùi như tôm.
   Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
282   Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.












-33-
   Thế-gian nhiều chuyện nực cười,
284   Tu-hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
   Người già ham muốn gái xinh,
286   Đến sao chẳng biết thân mình ra sao?
   Xác thân cọp xé beo quào,
288   Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
Tu-hành hiền-đức thảnh-thơi,
290   Ngay cha thảo Chúa, Phật Trời cứu cho.
    Bá-gia hãy rán mà lo,
292   Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền-cơ.
   Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
294   Nay viết ít tờ trần-hạ tỉnh tâm.
   Đến sau khổ-hạnh khỏi lâm,
296   Nhờ công tu-niệm âm-thầm quá hay.
   Chừng nào chim nọ biếng bay,
298   Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.
   Nhắc ra quá thảm quá phiền,
300   Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
   Ngọn đèn chơn-lý hết lu,
302   Khắp trong lê-thứ ao tù từ đây.
   Thấy trong thời-cuộc đổi xây,
304   Đời nay trở lại khác nào  đời Thương.
    Nhắc ra thêm ghét Trụ-Vương,
306   Ham mê Đắc-Kỷ là phường bội cha.
Hết gần Điên lại nói xa,
308   Nói cho bá-tánh biết mà người chi.
Lời lành khuyên hãy gắng-ghi,
310   Dương-trần phải rán tu-trì sớm khuya.
   Đừng ham làm chức nắc-nia,
312   Ngày sau như khóa không chìa dân ôi.
   Tu-hành như thể thả trôi,
314    Nay lở mai bồi chẳng có thiềng-tâm.
   Mưu sâu thì họa cũng thâm,
316   Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
   Hùm beo tây tượng bộn-bề,
318   Lại thêm ác thú mãng-xà, rít to.
 













-34-
   Bá-gia ai biết thì lo,
320   Gác tai gièm-siểm đôi co ích gì!
   Hết đây rồi đến dị-kỳ,
322   Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết-tha.
   Dân nay như thể không cha,
324   Chẳng ai dạy-dỗ thật là thảm-thương.
   Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,
326   Nơi chốn Phật-đường mặt ngọc ủ-ê.
   Cám-thương trần hạ nhiều bề,
328   Bởi chưng tàn-bạo khó kề Phật Tiên.
   Chúng ham danh-lợi điền-viên,
330   Ngày sau đến việc lụy-phiền suốt canh.
   Kệ-kinh tụng niệm đêm thanh,
332   Ấy là châu-ngọc để dành ngày sau.
   Bây giờ chưa biết vàng thau,
334   Đời sau kính trọng người cao tu-hành.
   Nam-mô miệng niệm lòng lành,
336   Bá-gia phải rán biết rành đường tu.
    Thương ai ham võng ham dù,
338   Cũng như những kẻ đui-mù đi đêm.
   Khuyên đời như vá múc thêm,
340   Mảng lo tranh-đoạt thù-hiềm với nhau.
Đến chừng có ốm có đau,
342   Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
   Dương-trần tiếng nhỏ tiếng to,
344   Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
   Tưởng rằng thân nó là vinh,
346   Chẳng lo tu-niệm cứ ghình với Điên.
   Nói ra trong dạ chẳng yên,
348   Bây giờ nói chuyện cỡi thuyền khuyên dân.
   Đêm ngày chẳng nại tấm thân,
350   Nắng mưa chẳng quản tảo-tần ai hay.
   Chừng sau đến hội Rồng-Mây,
352   Người đời mới biết Điên nầy là ai.
   Lui thuyền chèo quế tay gay,
354   Thuyền đi nước ngược đến rày cù-lao.














-35-
   Xa xa chẳng biết làng nào,
356   Thiệt làng Long-Khánh ít người nào tu.
   Tớ Thầy liền giả đui-mù,
358   Bèn đi ca hát kiếm xu dương-trần.
Bá-gia tựu lại rần-rần,
360   Trong nữa ngày trần chẳng có đồng chi.
   Nực cười trần-hạ một khi,
362   Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
   Bình-minh vừa buổi chợ đông,
364   Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
    Cho thiên-hạ tựu đông vầy,
366   Rồi mới ra bài hát việc Thiên-cơ.
   Tới đây bá-tánh làm ngơ,
368   Buồn cho lê-thứ kịp giờ ra đi.
   Lìa xa Hồng-Ngự một khi,
370   Thẳng đường trực-chỉ Điên đi Tân-Thành.
   Tới đây ra mặt người rành,
372   Nói chuyện thiệt sành thông-lảu Đạo nho.
   Nhiều người xúm lại đôi co,
374   Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
   Thấy đời động tánh từ-bi,
376   Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
   Khoan-khoan chơn nọ bước ra,
378   Giáp rạch Cả-Cái rồi ra ngoài vàm.
   Đoái nhìn mây nọ trắng lam,
380   Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.
   Xa nhìn sương bạc mờ-mờ,
382   Tân-An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
    Giả người bán cá bằng nay,
384   Dân-chúng ngày rày xúm lại mua đông .
   Tới lui giá cả vừa xong,
386   Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
   Có người chẳng chịu ngang cân,
388   Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
   Nực cười trần-hạ lắm  ôi!
390   Giảng cho bá-tánh một hồi quá lâu.














-36-
   Thân già thức suốt canh thâu,
392   Nói cho lê-thứ quày đầu mới thôi.
   Nhiều người nghe hết phủi rồi,
394   Quày thuyền trở lại bồi-hồi sầu-bi.
   Giả người tàn-tật một khi,
396   Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
   Một người nhà lá hẩm-hui,
398   Mà biết đạo-lý mời Cùi lên chơi.
   Bàn qua Kim-cổ một hồi,
400   Cùi xuống giữa vời Châu-Đốc thẳng xông.
   Đến nơi thiên-hạ còn đông,
402   Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
   Thấy dân ở chợ nực cười.
404   Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẩn-ngơ,
406   Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
   Phố phường nhiều kẻ tới lui,
408   Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
   Đời nay quý trọng người sang,
410   Giả ra gây-lộn nói toàn tiếng Tây.
   Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
412   Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
   Xuống thuyền quày-quả một khi,
414   Chèo lên Vĩnh-Tế vô thì núi Sam.
   Đi ngang chẳng ghé chùa am,
416   Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
   Xem qua đầu tóc u-sù,
418   Cũng như người tội ở tù mới ra.
   Chèo ghe rao việc gần xa,
420   Bồng-Lai Tiên-Cảnh ai mà đi không?
   Nhiều người tâm-đạo ước-mong,
422   Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
   Ấy là tại lịnh Phương-Tây,
424   Cho kẻ bạo-tàn kiến thấy Thần Tiên.
   Có người nói xéo nói xiên,
426   Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá-gia.














-37-
   Thoáng nghe lời nói thiết-tha,
428   Rưng-rưng nước mắt chèo về Mặc-Dưng.
    Tay chèo miệng cũng rao chừng.
430   Đường đi Tiên-cảnh ai từng biết chưa?
   Khúc thời nhắc lại đời xưa,
432   Lúc chàng Lý-Phủ đổ thừa Trọng-Ngư.
   Nhà anh có của tiền dư,
434   Sao chẳng hiền-từ thương-xót bá-gia?
   Bây giờ gặp việc thiết-tha,
436   Bạc vàng có cứu anh mà hay không?
   Hết tây Điên lại nói đông,
438   Có ai thức-tỉnh để lòng làm chi!
   Mặc-Dưng mất dạng Từ-Bi,
440   Thuyền đi trở ngược về thì Vàm-Nao.
   Dòm xem thiên-hạ lao-xao,
442   Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
   Con sông nước chảy vòng cầu,
444   Ngày sau có việc thảm-sầu thiết-tha.
   Chừng ấy nổi dậy phong-ba,
446   Có con nghiệt-thú nuốt mà người hung.
   Đến chừng thú ấy phục-tùng,
448   Bá-gia mới biết người Khùng là ai.
   Bây giờ phải chịu tiếng tai,
450   Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
   Đời như màn nọ bằng the,
452   Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên.
   Khỏi vàm Điên mới quày thuyền,
454   Xuống miền Cao-Lãnh lại phiền lòng thêm.
Tới đây ca hát ban đêm,
456   Ai có thù hiềm chưởi mắng cũng cam.
   Cho tiền cho bạc chẳng ham,
458   Quyết lòng dạy-dỗ dương-trần mà thôi.
   Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
460   Nào ai có biết đây là người chi.
   Trở về Phong-Mỹ một khi,
462   Thuyền đi một mạch tới thì Rạch-Chanh.
   













-38-
Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
464   Ở đây có một người lành mà thôi.
   Nhắc ra tâm-trí bồi-hồi,
466   Khó đứng khôn ngồi thương xót bá-gia.
   Kiến-Vàng làng nọ chẳng xa,
468   Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
   Xứ nầy nhà cửa ít-oi,
470   Mà trong dân-sự nhiều người chơn tu.
   Thấy người đói rách xin xu,
472   Ra tay cứu vớt đui-mù chẳng chê.
   Khỏi đây đến chỗ bộn-bề,
474   Rõ-ràng Bến-Lức đã kề bên ghe.
    Giả người Tàn-Tật đón xe,
476   Rồi lại nói vè ròng việc Thiên-cơ.
   Hết vè rồi lại nói thơ,
478   Làm cho bá-tánh ngẩn-ngơ trong lòng.
    Thơ vè Điên đã nói xong,
480   Đi luôn Ba-Cụm kẻo lòng ước-mơ.
   Tới đây dẹp hết vè thơ,
482   Giả Người Bán Mắm quá khờ quá quê.
   Chợ nầy thiên-hạ bộn-bề,
484   Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
   Bạn hàng tiếng nói quá dòn:
486   Giá nầy chẳng bán còn chờ chuyện chi?
   Bưng thời kẻ níu người trì:
488   Ở đây không bán chị thì đi đâu?
   Dứt lời rồi lại câu-mâu,
490   Mắng: con đĩ chó khéo hầu làm khôn!
   Muốn làm cho có người đồn,
492   Biến mất xác hồn cho chúng chỉn ghê.
   Nói ra thêm thảm thêm thê,
494   Ông-Lãnh dựa kề giả bán trầu cau.
   Bạn hàng xúm lại lao-xao:
496   Ông bán giá nào nói thử nghe coi?
Trầu thời kẻ móc người moi,
498   Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.














-39-
   Thấy già bán rẻ nó ham,
500   Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
Ghe người biến mất bằng nay,
502   Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
   Bến-Thành đến đó đậu liền,
504   Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân.
   Tớ Thầy nói chuyện cân-phân:
506   Mới lỡ một lần xin cậu thứ-tha.
   Hai người tôi ở phương xa,
508   Bởi chưng khổ-não mới là nổi-trôi.
   Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
510   Khoát-nạt một hồi rồi lại bắt giam.
   Thấy đời trong dạ hết ham,
512   Ghe người biến mất coi làm chi đây.
   Tức thời Điên giả làm thầy,
514   Đi coi đi bói khắp trong phố-phường.
   Có người tu-niệm đáng thương,
516   Điên mới chỉ đường Tịnh-Độ vãng sanh.
   Dạo cùng khắp cả Sài-Thành,
518   Khi ca khi lý nói rành Thiên-cơ.
   Bá-gia bá-tánh làm ngơ,
520   Tưởng như những kẻ nói Thơ kiếm tiền.
Văn-minh trọng bạc trọng tiền,
522   Khôn-ngoan độc-ác làm phiền người xưa.
   Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
524   Chẳng dám nói bừa cho bá-tánh nghe.
     Phiền-ba ngựa ngựa xe xe,
526   Điên giả người què Gia-Định thẳng xông.
   Què nầy đường xá lảu-thông,
528   Khắp trong thiềng-thị rồi thì nhà quê.
   Kêu cơm bá-tánh nghe ghê,
530   Thêm nói bộn-bề những việc về sau.
   Dương-trần bàn tán thấp cao,
532   Chẳng biết người nào rõ việc tiên-tri.
   Giả từ Gia-Định một khi,
534   Thuyền loan trực-chỉ đến thì Cần-thơ.














-40-
   Tới đây giả kẻ quá khờ,
536   Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
Phố-phường xóm dưới đầu trên,
538   Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
   Thị-thiềng hiền-đức được mười,
540   Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
   Vợ thời ca hát huyên-thiên,
542   Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
Bá-gia coi thể rác-rơm,
544   Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi.
   Điên mà ca hát việc đời,
546   Với việc hiện thời khổ-não Âu-Châu.
Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
548   Lòng quá thảm-sầu lìa lại Vĩnh-Long.
   Chợ quê giảng-dạy đã xong,
550   Thuyền loan trực-chỉ đến rày Bến-Tre.
   Chợ nầy đậu tại nhà bè,
552   Giả chị bán chè dạo khắp các nơi.
   Giọng rao rặt tiếng kim-thời,
554   Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
   Trẻ già qua lại lăng-xăng,
556   Nói nói rằng rằng những việc bướm ong.
   Gánh chè bán hết vừa xong,
558   Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
   Nói rồi chơn bước mau mau,
560   Lìa xa thiềng-thị đến thì thôn-quê.
   Đi đâu cũng bị nhún trề,
562   Kẻ lại chưởi thề nói: lũ bá-vơ.
   Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
564   Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.
   Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,
566   Đủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh.
    Tới đây bày đặt hát kình,
568   Đua nhau bán thuốc mặc tình mua không.
   Nói ra những chuyện bông-lông,
570   Trách trong lê-thứ không lòng từ-bi.
 













-41-
   Gặp người đói khó khinh-khi,
572   Điền-viên sự-sản ai thì làm cho.
   Dạy rồi thuyền lại Mỹ-Tho,
574   Khuyên  trong trần-hạ rán lo tu-trì.
   Xưa nay không có mấy khi,
576   Dương-trần có Phật vậy thì xuống đây.
   Chợ quê giáp hết thuyền quay,
578   Đi trở lộn về Ông-Chưởng giảng dân.
   Quản chi nắng Sở mưa Tần,
580   Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
   Thảm thương bá-tánh lắm ôi!
582   Bồng-Lai Tiên-cảnh rao rồi một khi.
   Nếu ai rảnh việc thì đi,
584   Còn mắc nợ thì ở lại dương-gian.
   Có người xưng hiệu ông Quan,
586   Tên thiệt Vân-Trường ở dưới dinh Ông.
   Thấy đời cũng bắt động lòng,
588   Ghé vào tệ-xá thẳng xông lên nhà.
Mình người tu-niệm vậy mà,
590   Nói chi lớn tiếng người mà khinh-khi.
   Người nhà cảm tạ một khi,
592   Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.
Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
594   Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba.
   Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,
596   Mấy bà có  biết lúa mà bay không?
   Có người đạo-lý hơi thông,
598   Xin ông bày-tỏ cho tôi hiểu rày.
   Điên nghe liền mới tỏ bày,
600   Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
   Hỏi qua tu-niệm âm-hao,
602   Không biết câu nào trái ý Đạo Ba.
   Buồn đời Điên mới bước ra,
604   Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
   Đi hoài chẳng có nghỉ-ngơi,
606   Miệng cũng rao mời Tiên-cảnh Bồng-Lai.














-42-
   Có người xuống bến bằng nay,
608   Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
   Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng:
610   Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi?
   Thương đời ta luống sầu bi,
612   Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu?
    Điên rằng tôi chẳng ham nhiều,
614   Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
Điên nầy bụng chẳng có tham,
616   Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
    Già đây cũng chở cầu vui,
618   Vậy chú hãy ngồi ngay chỗ sau đây.
   Thấy người lòng dạ tà-tây:
620   Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô?
Trong mui đã mát lại khô,
622   Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
   Trong mui dòm thấy trống không,
624   Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
   Cho người hung-bạo biết Ta,
626   Thuyền người biến mất vậy mà còn chi.
   Trở lên Chợ-Mới một khi,
628   Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
   Năm xưa đây có máu đào,
630   Mà nay chưa có người nào chơn-tu.
   Nào Điên có muốn kiếm xu,
632   Mà trong trần-hạ đui-mù không hay.
   Hỏi ông người ở đâu rày,
634   Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu.
Tới đây trong dạ buồn-hiu,
636   Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi.
   Giả ra một kẻ Hàn Nồi,
638   Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
640   Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
   Tôi còn mắc cái nợ nầy,
642   Nên mới làm vầy cho giải quả-căn.














-43-
   Nhà tôi đâu phải khó-khăn,
644   Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
   Nhiều người nghe nói reo cười,
646   Thân tôi lao-lý anh cười tôi chi?
   Giả từ Chợ-Mới một khi,
648   Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba-Răng.
   Ít ai biết được Đạo hằng,
650   Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn.
   Trước sau bày-tỏ nguồn-cơn,
652   Vì thương lê-thứ chi sờn lòng đây.
   Có người lối xóm muốn gây,
654   Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
   Ghe Điên vốn thiệt ghe be,
656   Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
658   Người nhà xuống bến trong lòng ngại-nghi.
    Ông nầy chẳng biết người chi,
660   Chèo quế vậy thì mạnh-bạo quá tay.
   Thần-Tiên mà chẳng ai hay,
662   Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ người xưa.
   Đời nay mỏng tợ màn thưa,
664   Khuyên trong lê-thứ chẳng thừa một câu.
   Thân nầy chẳng nệ mau lâu,
666   Miễn cho bá-tánh gặp chầu vinh-huê.
   Thương trong trần-hạ thảm-thê,
668   Lao-khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui.
   Nhiều người nghèo-khổ hẩm-hui,
670   Không đất cặm dùi mà chẳng ai thương.
   Con thuyền đương lướt gió sương,
672   Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài.
   Có người ở xóm bằng nay,
674   Bị mất trộm rày đồ-đạc sạch-trơn.
   Du-thần bày tỏ nguồn-cơn:
676   Rằng người nghèo-khó đương hờn phận-duyên.
   Điên nghe vội-vã quày thuyền,
678   Dùng khoa coi bói giải-phiền phàm nhơn.














-44-
   Coi rồi bày-tỏ thiệt hơn,
680   Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.
   Rồi đi dạo xóm một khi,
682   Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi.
   Vào nhà nói chuyện một hơi,
684   Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô.
Mua một ve uống hỡi cô,
686   Uống vô bổ khỏe trị nhiều chứng phong.
   Uống thì pha nước nóng trong,
688   Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
   Hai thằng ở xóm bằng nay,
690   Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
   Người cha đi lại thấy rầy,
692   Thiệt mấy đứa nầy cãi-cọ làm chi.
   Bước ra nhà nọ một khi,
694   Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
   Gặp xe chẳng có lên ngồi,
696   Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
   Xóm nầy kẻ ghét người ưa,
698   Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
   Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
700   Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.
   Vàm-Nao rày đã đến rồi,
702   Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ-Đình.
Hát hai câu hát huê-tình,
704   Đậu xem dân-chúng Chợ-Đình làm sao.
    Sáng ngày chợ nhóm lao-xao,
706   Giả Bận Áo Màu ai cũng dòm xem.
   Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
708   Đứng xa quanh-quẩn nói gièm với nhau.
    Đứa nầy nói để cho tao,
710   Đứa kia xạo-xự áo màu quá ngon.
   Nhắc ra động tấm lòng son,
712   Buồn cho lê-thứ sao còn ham vui.
   Ở đây một buổi ghe lui,
714   Về trên bảy-núi ngùi-ngùi thương dân.














-45-
   Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
716   Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
   Chơn-tu thì quá ít-oi,
718   Nhiều người ẩn-sĩ quá lòi tánh tham.
   Đi lần ra đến Núi Sam,
720   Đến nơi rảo khắp chùa am của người.
   Dạy rồi bắt quá tức cười,
722   Thầy tu nhiều kẻ biếng-lười quá tay.
   Trẻ già biến-hóa ai hay,
724   Dạo trong Bảy-Núi chẳng nài công lao.
   Rú-rừng lúc thấp lúc cao,
726   Giả ra nghèo-khó vào nhiều am-vân.
   Tu hành nhiều kẻ tham sân,
728   Làm sao cho đặng mau gần Phật-Tiên.
   Ai ai  cũng cứ ham tiền,
730   Ấy là đem sợi xích-xiềng trói thân.
Lìa xa Bảy-Núi lần lần,
732   Xuống thuyền trực-chỉ lên gần Hà-Tiên.
   Đến đây giả kẻ không tiền,
734   Rảo khắp thị-thiềng xin-xỏ bá-gia.
   Đi rồi cũng quá thiết-tha,
736   Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
   Non Tiên gió mát thảnh-thơi,
738   Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
   Xuống trần lúc hát lúc ca,
740   Mà trong lê-thứ có mà biết chi.
   Nam-mô hai chữ từ-bi,
742   Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
   Tu thời nhàn hạ thân mình,
744   Phần Điên khuyên-nhủ mặc tình ghét ưa.
   Thiên-cơ ai dám nói thừa,
746   Mà trong bá-tánh chẳng ưa Điên Khùng.
   Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
748   Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
750   Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.
 













-46-
   Tới đây giả kẻ có cơn,
752   Khi say khi tỉnh lúc hờn số-căn.
   Dương-trần đi lại lăng-xăng,
754   Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
    Ở đâu mà tới thị-thiềng,
756   Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
   Lòng thương vì tánh từ-bi,
758   Dạy-dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.
   Dạy rồi Điên lại xuống ghe,
760   Long-Xuyên, Sa-Đéc nói ròng vè-thơ.
   Vợ chồng nghèo-khổ bơ-vơ,
762   Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
   Buồn trong lê-thứ ủ-ê,
764   Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
   Đến đâu thì cũng tả-tơi,
766   Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
   Thị-thiềng thiên-hạ lao-xao,
768   Chẳng có người nào tu-niệm hiền-lương.
   Thấy trong trần-hạ thảm-thương,
770   Đâu có biết đường chơn-chánh mà đi.
   Lìa xa đô-thị một khi,
772   Thuyền-loan trực-chỉ đến thì Bạc-Liêu.
   Chợ nầy tàn-ác quá nhiều,
774   Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
   Đi cùng thành-thị ráo trơn,
776   Cà-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
Cho trong bá-tánh chợ nầy,
778   Rõ việc dẫy-đầy lao-lý về sau.
   Đường đi lao-khổ sá bao,
780   Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
   Tu-hành đâu có tốn xu,
782   Mà sau thoát khỏi lao-tù thế-gian.
   Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
784   Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
   Đằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
786   Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.














-47-
   Xưa kia bão-lụt tỉnh nầy,
788   Mà sau cảnh khổ xứ nầy nhiều hơn.
   Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
790   Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi.
   Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
792   Đến đó vậy thời trời mới sáng ra.
   Chợ nầy đông-đúc người ta,
794   Nhiều đuông chà-là lại với nho-tươi.
Đến đây Thầy Tớ hóa mười,
796   Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Đông.
    Ai ai đều cũng ngóng trông,
798   Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao.
   Hát mà trong bụng xáo-xào,
800   Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
    Cả kêu dân-chúng hỡi ôi!
802   Sao không thức-tỉnh việc đời gần bên.
   Khổ đà đi đến như tên,
804   Rán lo tu-niệm tìm nền vinh-hoa.
   Vinh nầy của Đức Phật-Bà,
806   Của Ông Phật-Tổ ban mà cho dân.
   Tu cho nhàn-toại tấm thân,
808   Đừng làm tàn-ác xa lần Tiên-bang.
   Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
810   Rán lo làm phước làm doan mới là.
   Đến lâm cảnh khổ có Ta,
812   Với lịnh Phật Bà cứu-vớt giùm cho.
   Tu-hành phải rán trì mò,
814   Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh-khi.
   Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,
816   Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.
   Đến đây dạy-dỗ gần xa,
818   Khuyên trong bá-tánh vậy mà tỉnh tâm.
   Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm,
820   Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.
   Tân-An dạy-dỗ kịp giờ,
822   Chẳng dám chần-chờ đi thẳng Tây-Ninh.














-48-
Tới đây vừa lúc bình-minh,
824   Điên ra sức giảng mặc tình nghe không.
   Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,
826   Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.
   Thương dân giảng dạy dẫy-đầy,
828   Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ-chơn.
   Nhiều người hung ác quá chừng,
830   Không biết đời khổ lo mừng lo vui.
   Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,
832   Từ đây Lục-Tỉnh đui cùi thiếu chi.
   Nói mà trong dạ sầu-bi,
834   Bá-gia chậm chậm khinh-khi Điên nầy.
   Đừng ham nói nọ nói nầy,
836   Lặng yên coi thử Điên nầy là ai.
   Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
838   Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
   Câu nầy nhắc chuyện năm xưa,
840   Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.
Khùng thời quê ngụ Núi Sam,
842   Còn Điên chẳng có chùa am dưới nầy.
    Vua Nghiêu xưa mở đất cày,
844   Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên.
   Xuống trần dạy-dỗ huyên-thiên,
846   Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.
     Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,
848   Lời Điên khuyên-nhủ như đờn Bá-Nha.
   Thị-thiềng khắp hết gần xa,
850   Từ đây sắp đến quê nhà Điên đi.
   Đừng thấy ngu-dại mà khi,
852   Thầy thì Huệ-Lựu tớ thì Huệ-Tâm.
   Đời cùng còn chẳng mấy năm,
854   Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
   Cha thì chẳng thấy mặt con,
856   Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.
   Khuyên trong lê-thứ trẻ già,
858   Tu-hành hiền-đức Phật mà cứu cho.














-49-
   Ấy là quí-báu thơm tho,
860   Đừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.
   Con thì ăn ở nhu-mì,
862   Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.
   Sau nầy sấu bắt hùm tha,
864   Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.
   Đời xưa quả-báo thì chầy,
866   Đời nay quả-báo một giây nhãn-tiền.
   Dương-trần phải rán làm hiền,
868   Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.
Người hung phải sửa cái thân,
870   Từ đây có kẻ Du-Thần xét-soi.
   Chuyện người chớ móc chớ moi,
872   Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.
   Ai thương ai ghét mặc tình,
874   Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.
   Điên đây vưng lịnh Phương Tây,
876   Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.
   Thấy đời lòng dạ tây-tà,
878   Cứ theo chế-nhạo cười mà người Điên.
   Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,
880   Chẳng có ham tiền cũng bị ghét-vơ.
   Viết cho bá-tánh ít tờ,
882   Đi làm ruộng-rẫy bỏ hờ theo xem.
   Thương người nghèo khổ lấm-lem,
884   Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.
   Ai mà biết đặng ngày mai,
886   Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.
Từ rày gặp cảnh buồn-rầu,
888   Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.
    Dương-trần nay đáng sầu-bi,
890   Nên Điên mới nói chuyện ni tỏ tường.
   Đêm ngày tưởng Phật cho thường,
892   Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.
    Thương đời Điên mới tỏ bày,
894   Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.













-50-
Đừng khi nhà lá chòi tre,
896   Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.
   Lúc này Điên mắc lăng-xăng,
898   Dương-trần biết đặng đạo-hằng mới thôi.
   Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
900   Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
   Muốn cho dân hiểu Đạo mầu,
902   Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
   Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
904   Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.
   Sáng ngày con chó sủa tru,
906   Chừng heo cắn ổ hiềm-thù mới yên.
   Đừng ham giành giựt của tiền,
908   Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.
   Nay Điên chỉ rõ đường tu,
910   Ấy là đủ việc tài-bù cho dân.
   Thôi thôi nói riết dần lân,
912   Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.
NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
* * *
       BỬU châu công luyện chốn non Tần,
914          SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
       KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
916          HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.




















-53-
QUYỂN NHÌ
KỆ DÂN
Của Người Khùng
               
   Đây là quyển thứ nhì mà Đức Thầy
               đã viết ngày 12  Tháng 9 năm
              Kỷ-Mão (1939) Tại Hòa-Hảo(476 câu)
Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,
002   Thấy dân mang sưu-thuế mà thương.
Chẳng qua là Nam-Việt vô vương,
004   Nên tai-ách xảy ra thảm-thiết.
Bạc không cánh đổi thay chẳng biết,
006   Vàng bị nghèo mấy chiếc chẳng còn.
Mới mấy năm sao quá hao-mòn,
008   Mùa-màng thất đói, đau không thuốc.
Thương-hại bấy lê-dân đứt ruột,
010   Thảm vợ con đói rách đùm-đeo.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo,
012   Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc.
Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
014   Máy thiên-cơ mỗi phút mỗi thay.
Nẻo thạnh-suy như thể tên bay,
016   Đường vinh-nhục rủi may một lát.
Ai phú-quí vào đài ra các,
018   Ta Điên Khùng thương hết thế-trần.
Khuyên chúng-sanh chẳng biết mấy lần,
020   Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo.
Trai trung-liệt đáng trai hiền-thảo,
022   Gái tiết-trinh mới gái Nam-trào.
Lời Thánh Hiền để lại biết bao,
024   Sao trai gái chẳng coi mà sửa?
Đời tận-thế mà còn lần-lựa,
026   Chẳng chịu mau cải dữ về lành.















-54-
Làm Phật-Nhi phải được lòng thành,
028   Thì mới đặng vãng-sanh Cực-Lạc.
Tương với muối cháo rau đạm-bạc,
030   Nghèo lương-hiền biết niệm Di-Đà.
Mà mai sau thoát khỏi tinh ma,
032   Lại được thấy cảnh Tiên nhàn-hạ.
Trên Bảy-Núi còn nhiều báu lạ,
034   Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời.
Coi là coi được Phật được Trời,
036   Coi phép lạ của Tiên của Thánh.
Cuộc dương-thế ngày nay mỏng-mảnh,
038   Mà sang giàu còn hiếp nghèo-nàn.
Phải xả thân tầm Bát-Nhã thoàn,
040   Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt.
Đến chừng đó bốn phương có giặc,
042   Khắp hoàn-cầu thiết-thiết tha-tha.
Vậy sớm mau kiếm chữ Ma-Ha,
044   Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.
Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,
046   Vọng Cửu-Huyền sớm tối mới mầu.
Chữ Nam-Mô dẹp được lòng sầu,
048   Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh.
Ghét những đứa giàu-sang kiêu-hãnh,
050   Thương những người đói rách cơ-hàn.
Cảnh phồn-hoa khó sánh lâm-san,
052   Sau sẽ có nhiều điều vinh-hạnh.
Cõi trần-thế hết suy tới thạnh,
054   Hết lâm nguy đến lúc khải-hoàn.
Tuy tu-hành chịu chữ nghèo-nàn,
056   Sau đắc đạo gặp điều cao quí.
Mặc bá-tánh đời nầy dị-nghị,
058   Ta Điên Khùng mà tánh lương-hiền.
Lòng yêu dân chẳng trọng bạc tiền,
060   Mà dương-thế cứ theo biếm-nhẻ.
Sau lập Hội thì già hóa trẻ,
062   Khắp hoàn-cầu đổi xác thay hồn.















-55-
Đức Ngọc-Hoàng mở cửa Thiên-môn,
064   Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.
Khuyên trai gái học theo Khổng-Mạnh,
066   Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người.
Xem truyện thơ chẳng biết hổ-ngươi,
068   Mà làm thói Điêu-Thuyền, Lữ-Bố.
Sau kẻ ấy làm mồi mảnh-hổ,
070   Cảnh núi-non nhiều thú dị-kỳ.
Nó trọng ai hiền-đức nhu-mì,
072   Sát-phạt kẻ bội cha phản chúa.
Đến chừng đó thiên-la lưới bủa,
074   Mới biết rằng Trời Phật công-bằng.
Nếu dương-trần sớm biết ăn-năn,
076   Làm hiền-đức khỏi đường lao-lý.
Học tả-đạo làm điều tà-mị,
078   Theo dị-đoan cúng kiếng tinh-tà.
Thì sau nầy gặp chuyện thiết-tha,
080   Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu.
Thấy bá-tánh nghinh tân yểm cựu,
082   Học ai mà ngang-ngược nhiều lời.
Phụ mẹ cha khinh-dể Phật Trời,
084   Chẳng có kể công sanh dưỡng-dục.
Thương lê-thứ bày tường trong đục,
086   Mặc ý ai nghe phải thì làm.
Lời của người di-tịch Núi-Sam,
088   Chớ chẳng phải bày điều huyễn-hoặc.
Cảnh Thiên-Trước thơm-tho nồng-nặc,
090   Chẳng ở yên còn xuống phàm-trần.
Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
092   Nên chẳng kể tấm thân lao-khổ.
Giả quê dốt khuyên người tỉnh-ngộ,
094   Giả bán buôn thức giấc người đời.
Rằng ngày nay có Phật có Trời,
096   Kẻo dân-thứ nhiều người kiêu ngạo.
Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ-Mão,
098   Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.













-56-
Nếu trẻ già ai biết thì dùng,
100   Chẳng có ép có nài bá-tánh.
Nghe Điên dạy sau nầy thơi-thảnh,
102   Đây chỉ đường Cực-Lạc vãng-sanh.
Đừng có ham lên mặt hùng-anh,
104   Sa Địa-ngục uổng thân uổng kiếp.
Theo đạo-lý nhứt tâm mới kịp,
106   Ngày nay đà gặp dịp tu-hành.
Niệm Di-Đà rán niệm cho rành,
108   Thì mới được sống coi Tiên-Thánh.
Đức Minh-Chúa chẳng ai dám sánh,
110   Xưa mạt Thương phụng gáy non kỳ.
Bởi Võ-Vương đáng bực tu-mi,
112   Nay trở lại khác nào đời trước.
Kẻ gian-ác bị gươm ba thước,
114   Nơi pháp-tràng  trị kẻ hung-đồ.
Được thảnh-thơi nhờ chữ Nam-Mô,
116   Khuyên bổn-đạo rán mà trì-chí.
Xưa Tây-Bá thất niên Dũ-Lý,
118   Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.
Dòm biển trần cảnh khổ vơi-vơi,
120   Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết.
Ghét bạo chúa là xưa Trụ-Kiệt,
122   Mất cơ-đồ lại bị lửa thiêu.
Thương Minh-Vương bắt chước Thuấn-Nghiêu.
124   Lòng hiền-đức nào ai có biết,
Thương trần-thế kể sao cho xiết.
126   Mượn xác trần bút tả ít hàng,
Kể rõ-ràng những việc lầm-than.
128   Mặc làng xóm muốn nghe thì chép,
Việc tu-tỉnh Khùng không có ép.
130   Cho giấy vàng Điên chẳng có nài,
Lòng yêu dân chẳng nệ vắn dài,
132   Cho bổn-đạo giải-khuây niệm-Phật.
Việc xảy đến đây truyền sự thật,
134   Ấy là lời của Phật giáo-khuyên.














-57-
Rán nghe lời của kẻ Khùng-Điên,
136   Phật, Tiên, Thánh hãy nên trọng-kỉnh.
Bịnh ôn-dịch cũng đừng mời thỉnh,
138   Cõi ngũ-hành chẳng khá réo-kêu.
Hãy gìn lòng chớ khá dệt-thêu,
140   Nói xiên-xỏ cũng không no-béo.
Đời Nguơn Hạ ngày nay mỏng mẻo,
142   Khuyên thế trần hãy rán kiêng dè.
Mặc tình ai lên ngựa xuống xe,
144   Ta chẳng có ham nơi phú qúi.
Trong bổn đạo từ nay kim chỉ,
146   Đói với nghèo sắp đến bây giờ,
Vì thương đời nên Lão kể sơ,
148   Cho bá-tánh rõ lời châu ngọc.
Nước Nam-Việt ai là thằng ngốc,
150   Người đời nay như ốc mượn hồn.
Chim tìm cây mới gọi chim khôn,
152   Người hiền-đức mới là người trí.
Theo Phật-Giáo sau nầy cao-quí,
154   Được nhìn xem Ngọc-Đế xử phân.
Lại dựa kề Bệ-Ngọc Các-Lân,
156   Cảnh phú-quí nhờ ơn Phật-Tổ.
Thấy bá-tánh nhiều điều tai-khổ,
158   Khùng thương dân nên phải hết lời.
Dạo Lục-Châu chẳng có nghỉ-ngơi,
160   Mà lê-thứ nào đâu có biết.
Dạy Đạo chánh vì thương Nam-Việt,
162   Ở Cao-Miên vì mến Tần-Hoàng.
Trở về Nam đặng có sửa-sang,
164   Cho thiện-tín được rành chơn-lý.
Trong sáu tỉnh nhiều điều tà-mị,
166   Tu-hành mà vị-kỷ quá chừng.
Thì làm sao thoát khỏi trầm-luân,
168   Khuyên bổn-đạo rán tầm nẻo chánh.
Chừng lập Hội xác-thân mới rảnh,
170   Nếu không thời khó thấy Phật Trời.














-58-
Khùng dạy dân chẳng dám  nghỉ-ngơi,
172   Đi chẳng kể tấm thân già cả.
Cảnh trần-thế mặc ai thong-thả,
174   Chớ lòng Ta chẳng đắm hồng-trần.
Có thân thì rán giữ lấy thân,
176   Để đến việc ăn-năn chẳng kịp.
Yêu những kẻ tâm đầu ý hiệp,
178   Mến những ai biết kiếm Đạo mầu.
Cảnh Tây-Thiên báu ngọc đầy lầu,
180   Rán tu-tỉnh tìm nơi an dưỡng.
Kẻ hiền-đức sau nầy được hưởng,
182   Phép Thần-Linh của Đức Di-Đà.
Lại được thêm thoát khỏi Ta-bà,
184   Khỏi luân-chuyển trong vòng Lục Đạo.
Đức Diêm-Chúa yêu người hiền-thảo,
186   Trọng những ai biết niệm Di-Đà.
Lại được gần Bệ-Ngọc Long-Xa,
188   Coi chư quốc tranh-giành châu báu.
Trai nhỏ tuổi kính thành-trưởng lão,
190   Gái bé thơ biết trọng tuổi già.
Rán tỉnh tâm dẹp được lòng tà,
192   Thì được thấy Phật Tiên Thần Thánh.
Việc hung dữ hãy nên xa lánh,
194   Theo gương hiền trau sửa làm người.
Sau tà tinh ăn sống nuốt tươi,
196   Mà bá tánh chẳng lo cải thiện.
Miệng dương thế hay bày nói huyễn,
198   Sách Thánh-Hiền ghét kẻ nhiều lời.
Khuyên chúng-sanh niệm Phật coi đời,
200   Cõi Hạ-Giái rồng mây chơi-giỡn.
Ở chòm-xóm đừng cho nhơ-bợn,
202   Rán giữ gìn phong-hóa nước nhà.
Câu tam-tùng bọn gái nước ta,
204   Chữ hiếu-nghĩa kẻ trai cho vẹn.
Ghét những kẻ có ăn bỏn-sẻn,
206   Thương những người đói rách lương-hiền.














-59-
Muốn tu-hành thì phải cần-chuyên,
208   Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi.
Kẻ phú-quí đừng vong cơm nguội,
210   Sau đói lòng chẳng có mà dùng.
Ta yêu đời than-thở chẳng cùng,
212   Mà bá-tánh chẳng theo học hỏi.
A-Di-Đà nhìn xem khắp cõi,
214   Đặng trông chờ mong-mỏi chúng-sanh.
Hiện hào-quang ngũ sắc hiền-lành,
216   Đặng tìm kiếm những người hiền-đức.
Kẻ tâm-trí mau mau tỉnh-thức,
218   Kiếm Đạo mầu đặng có hưởng nhờ.
Chốn hồng-trần nhiều cảnh nhuốc-nhơ,
220   Rán hiểu rõ huyền-cơ mà tránh.
Chốn tửu-điếm ta nên xa lánh,
222   Tứ-đổ-tường đừng có nhiễm vào.
Người tránh xa mới gọi trí cao,
224   Sa bốn-vách mang điều nhơ-nhuốc.
Muốn tu-tỉnh nay đà gặp cuộc,
226   Đức Di-Đà truyền mở Đạo lành.
Bởi vì Ngài thương xót chúng-sanh,
228   Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.
Nên khổ-lao Khùng không có nại,
230   Miễn