Author Topic: TÌM HIỂU THÊM VỀ HIỆN TƯỢNG SƯ VÃI BÁN KHOAI  (Read 843 times)

admin

  • Administrator
  • Newbie
  • *****
  • Posts: 19
    • View Profile
TÌM HIỂU THÊM VỀ HIỆN TƯỢNG SƯ VÃI BÁN KHOAI
« on: April 14, 2015, 06:22:31 PM »
Giữa thế kỉ XIX, xã hội miền Nam gặp cơn biến động dữ dội: dịch bệnh hoành hành rồi thực dân Pháp xâm lược, các phong trào kháng chiến chống Pháp lần lượt tan rã do bị đàn áp hết sức dã man. Triều đình nhà Nguyễn không còn cách nào khác, phải đi từ thỏa hiệp này đến thỏa hiệp khác và cuối cùng chính thức đầu hàng bằng “hòa ước” 1884. Theo hòa ước đó thì Nam Kì trở thành thuộc địa của Pháp, xem như nước Pháp nối dài. Do đó, nền văn hóa phương Tây thực dụng, lạ lẫm cũng theo chân thực dân Pháp tràn vào xứ Nam Kì. Nền văn hóa truyền thống Việt Nam lại thêm biến động dữ dội.

Những biến động dồn dập nói trên khiến những bậc tiên giác nghĩ đến thời mạt pháp (theo Phật giáo) hay hạ ngươn/hạ nguyên (theo Đạo giáo và Nho giáo)1. Theo tu sĩ Độc Giác Chơn Như trong cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn2 thì có ba ngươn: Thượng ngươn, Trung ngươn và Hạ ngươn, biểu thị ba giai đoạn thịnh suy của cuộc đời. Mỗi ngươn dài 60 năm, tròn một con giáp theo vòng tuần hoàn của sự dịch chuyển giữa thập can và thập nhị chi. Theo ông Sư Vãi Bán Khoai thì hạ ngươn bắt đầu từ năm Giáp tí 1864 đến năm Giáp tí 1924.

Niềm xác tín nói trên được khởi đầu từ Đức Phật Thầy Tây An, tục danh là Đoàn Minh Huyên (1807 – 1856), được xem là người sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kì Hương với giáo pháp vô vi, nhập thế và bất chấp hình tướng. Sau khi Đức Phật Thầy viên tịch, nhiều vị đại đệ tử của ngài tiếp tục xiển dương giáo pháp nói trên, phát phù trị bệnh, đặt sám giảng dạy đời và có khuynh hướng chống Pháp. Có thể kể như: Đức Phật Trùm (ông Đạo Đèn), Đức Cố quản Trần Văn Thành (ông Đạo Lành), Đức Bổn sư Ngô Lợi, ông Sư Vãi Bán Khoai, ông Cử Đa, ông Đạo Xuyến, ông Đạo Ngoạn, ông Đạo Lập, ông Đạo Lãnh, v.v. và Đức Huỳnh giáo chủ.

Trong số những bậc siêu phàm nói trên thì ông Sư Vãi Bán Khoai là trường hợp đặc biệt nhất: thoát ẩn thoát hiện, thay hình đổi dạng, nam giới mà trông như phụ nữ, lại không rõ tên tuổi, quê quán mặc dù ông đã vân du khắp nơi, sang cả Cao Miên, Trung Quốc và để lại nhiều sám giảng. Do đó, mục đích bài viết này là thử tìm hiểu để trả lời một số nghi vấn về ông đạo có một không hai này.

1. Tại sao gọi là “Sư Vãi Bán Khoai”?

Theo Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm thì ông Sư Vãi Bán Khoai “hình dạng nhỏ bé, ốm yếu như người đàn bà, trước ngực thường mang một cái yếm, xa xa trông như một cô vãi. Lại nữa, ông trị bịnh cho đời hay dùng vải áo, vải khăn của mình mà cho, nhân thế người ta đặt cho ông cái biệt danh Sư Vãi3.

Vào khoảng năm Tân Sửu (1901) và Nhâm Dần (1902), ông thường giả dạng thường nhân đi bán khoai ở xứ Cao Miên và trong kinh Vĩnh Tế để tùy cơ khuyến thiện người đời. Thấy vậy người đời mới quen gọi ông là ông Sư Vãi Bán Khoai”4.

Một vài thông tin trên cần phải được xem xét lại, chẳng hạn về thời điểm ông Sư Vãi Bán Khoai vân du dạy đời. Nguyễn Văn Hầu ghi nhận là trong hai năm 1901 và 1902 có lẽ chưa thỏa đáng, bởi lẽ trong một số bài sám giảng của mình, ông Sư Vãi Bán Khoai có tiên tri rằng năm Giáp tí 1864 sắp đến là năm bắt đầu thời hạ ngươn mạt pháp:

Hạ ngươn Giáp tí đầu niên,
Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào.

(Vãn Sư Vãi Bán Khoai)

Hạ ngươn Giáp tí bằng nay,
Cơ trời đã khiến lập đời thượng lai.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 4)

Giáp tí khổ não muôn phần,
Không phải thái bình ngày rày dân ôi!

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 6)

Điều đó chứng tỏ ông Sư Vãi Bán Khoai xuất hiện từ trước năm 1864 và tính tới năm 1901 thì ông xuất hiện khoảng 40 năm. Hơn nữa, ông đã vân du không chỉ trong nước mà sang cả Cao Miên, Trung Quốc nên chắc chắn phải thực hiện trong một khoảng thời gian dài chứ không thể chỉ trong hai năm:

Rồi tôi đi đến bên Tàu,
Bây giờ trở lại An Giang Nam thành.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 20)

Tôi đâu mà có an thân,
Bây giờ Phật biểu tôi sang nước Tần.5

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 21)

Còn về danh xưng “Bán Khoai” thì cần phải hiểu đó chỉ là một cách gọi tên, họa chăng là do ông Sư Vãi Bán Khoai lúc đầu giả dạng người bơi xuồng bán khoai lang củ, chứ thật ra ông còn giả dạng thành nhiều thân phận khác nữa, như người bán gạo, bán củi, bán bánh, đui mù, ăn xin, v.v.

Tôi đây ông vãi bán khoai,
Bán gạo Ông Chưởng6 ai ai cũng lầm.
Ghe khoai, ghe củi, ghe lường,
Chèo qua chèo lại tôi đương độ trà.
Có người bán bánh thật thà,
Bao nhiêu quỷ mị non tà sạch trơn.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 19)



2.Lai lịch Sư Vãi Bán Khoai và sám giảng/sấm vãn của ông

2.1. Lai lịch


Theo Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm thì ông Sư Vãi Bán Khoai “tên là Mỹ, họ gì không rõ. Quê quán và lai lịch tổ tiên như thế nào hỏi không ai biết. Ông có vợ, sanh được hai con và thường đến Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc)… Ông có nhiều pháp thuật và võ nghệ. Nội ngón tay cái của ông, mỗi khi cần niệm kinh hay đọc chú, ông dùng cây gõ vào thì có tiếng kêu lên cốc cốc, giống như mõ của các thầy phù thủy” (Sđd, tr. 101 – 102.) Tuy nhiên, so với các bậc siêu phàm khác thì lai lịch ông Sư Vãi Bán Khoai được ghi trong Thất Sơn mầu nhiệm còn quá sơ sài.

Trên nguyệt san Giác Ngộ số 136 (tháng 7/2007), Huỳnh Ngọc Trảng có bài “Ký tả một bài về hòa thượng Huệ Lưu”. Bài viết chủ yếu khai thác thông tin từ cuốn Sám giãn người đời (gồm 11 bài) do nhà in Thạnh Mậu phát hành năm 1949. Trong cuốn “Sám giãn” này, theo phân tích của Huỳnh Ngọc Trảng thì có 4 bài không nêu tên tác giả, 5 bài nêu tên Huệ Lưu, 3 bài có tên ông Sư Vãi Bán Khoai. Điều này nghĩa là có một bài (bài số IX) vừa có tên Huệ Lưu, vừa có tên ông Sư Vãi Bán Khoai.
Do đó, Huỳnh Ngọc Trảng nêu nghi vấn: “Chính sự không thống nhất về danh xưng/tên tác giả trong các bài sám giảng in trong Sám giãn người đời như vậy nên hậu thế không ít người đã giả thiết, thậm chí khẳng định Sư Vãi Bán Khoai chính là danh xưng của hòa thượng Huệ Lưu trong khoảng thời gian hòa thượng vân du vùng Thất Sơn – Bảy Núi” (Sđd, tr. 61).

Theo chúng tôi, suy đoán đó tỏ ra có cơ sở mặc dù không hoàn toàn chắc chắn. Bởi lẽ, trong Thất Sơn mầu nhiệm, Nguyễn Văn Hầu cũng đã cho biết: “Ông [Sư Vãi Bán Khoai] để lại một bổn Sám giảng người đời (11 quyển)… ngày nay vẫn còn truyền tụng” (Sđd, tr. 104).

Hơn nữa, trong cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, có lúc xưng “Tôi đây ông vãi bán khoai” (tr. 19), có lúc lại xưng:

Huệ Lưu ký tả một bài,
Diễn ban châu quận hậu lai khán tường. (tr. 28)

Huệ Lưu bút ký đã rồi,
Đặng cho thiên hạ dấu lai để đời. (tr. 28)

Mặt khác, trong bài “Sám giảng khuyên người đời tu niệm”, Đức Huỳnh giáo chủ có kể việc hai thầy trò nhà sư (không nói rõ là ai) cũng vân du giả dạng, biến hóa, ẩn hiện khắp Nam Kì lục tỉnh để “khuyên người đời tu niệm”. Đến đoạn nhắc đến “chuyện năm xưa”:

Cảm thương ông lão bán khoai,
Vì yêu dân chúng chẳng nài nắng mưa.

thì liền sau đó khẳng định danh xưng:

Đừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ Lựu [Lưu], tớ thì Huệ Tâm.7

Điều này chứng tỏ Đức Huỳnh giáo chủ đã gián tiếp cho biết Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu. Và nếu quả thật như vậy thì có thể biết được quê quán của ông Sư Vãi Bán Khoai qua lời của thượng tọa Thích Huệ Viên, trụ trì tổ đình Giác Viên (số 161/85/20 Lạc Long Quân, Q.11, TP.HCM) như sau: “Hòa thượng Huệ Lưu vốn quê ở làng Nhựt Tảo [nay thuộc huyện Tân Trụ, tỉnh Long An], sinh vào khoảng giữa thế kỉ XIX và từ nhỏ đã xuất gia tu học ở chùa Giác Viên. Hòa thượng Huệ Lưu thọ giới quy y với hòa thượng Minh Khiêm – Hoằng Ân, dốc chí tu học và giữ giới luật tinh nghiêm, giỏi cả về Phật pháp và Hán văn. Sau đó, ông được cử về làm trụ trì chùa Huê Nghiêm (Thủ Đức)”8.

Tuy nhiên, theo cuốn Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam9 thì thiền sư Huệ Lưu sinh năm 1857, mất năm 1898, như vậy thì ông không thể nào tiên tri về năm giáp tí 1864 được, vì tính đến năm đó ông lớn nhất cũng chỉ có 7 tuổi. Mặt khác, ông mất năm 1898 thì không thể xuất hiện vào năm 1901, 1902 như ghi nhận của Nguyễn Văn Hầu được. Do đó, giả thiết Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu cần phải xem xét lại.

Hơn nữa, giả sử Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu thì quê quán của ông cũng không thống nhất: theo thượng tọa Huệ Viên thì ông quê ở làng Nhựt Tảo (Long An) trong khi Sấm giảng khuyên người đời tu niệm của Đức Huỳnh giáo chủ gọi ông Sư Vãi Bán Khoai là Khùng 10 còn mình tự xưng là Điên 11 và cho biết quê quán của ông Sư Vãi Bán Khoai ở núi Sam (nay là thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang):

Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Điên chẳng có chùa am dưới này. 12

Chính điều này đã góp phần bác bỏ giả thiết cho rằng ông Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu. Tuy nhiên, nếu hiểu núi Sam là quê hương thứ hai của ông Sư Vãi Bán Khoai thì vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nữa.

Năm sinh của ông Sư Vãi Bán Khoai đã không rõ, năm mất cũng không rõ. Tuy nhiên, trong Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, đoạn cuối có bài “Lời từ giã” với những câu:

Xưa kia tục cổ ông bà,
Đâu có cắt tóc như đời nay đâu.
Tu hành cũng khá lo âu,
Để tóc mới khỏi thảm sầu từ đây. (tr. 40)

Từ đó có thể suy đoán rằng ông Sư Vãi Bán Khoai nói “Lời từ giã” này vào khoảng năm 1905, khi cuộc vận động cắt tóc của phong trào Duy Tân nổi lên rầm rộ. Điều này cũng góp phần bác bỏ giả thiết cho rằng năm giáp tý mà ông tiên tri là 1924.

Tuy nhiên, gần đây trên trang http://vi.wikipedia.org có cung cấp thêm thông tin mới về Sư Vãi Bán Khoai như sau:

“Ở Bến Tre có một ngôi đền và mộ của Sư Bán Bán Khoai. Nơi đó không có tài liệu nào viết về thân thế và sự nghiệp của vị tu sĩ này, chỉ biết ông tên Huỳnh Phú Minh, pháp danh Sư Vãi Bán Khoai, sinh năm 1898, mất lúc 21 giờ đêm ngày mùng 10 tháng Hai năm Đinh Dậu (1957), hưởng dương 59 tuổi.

Buổi đầu, an táng ông tại Cầu Móng (thuộc Bến Tre), sau cải táng về xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.

Ở đền, có phát không quyển Sám giảng người đời, trong đó có 11 cuốn (tổng cộng 2. 422 câu) và ba bài kệ (tổng cộng 128 câu). Tất cả đều viết theo thể lục bát, có chủ đề tương tự như trên. Nhưng căn cứ lời kể của GS. Nguyễn Văn Hầu, Sư Vãi Bán Khoai ở An Giang xuất hiện và giảng đạo trong khoảng năm 1901-1902, thì lúc đó Sư Vãi Bán Khoai ở Bến Tre chỉ mới ba hoặc 4 tuổi, suy ra hai ông sư này không thể là một được”.

Tóm lại, những thông tin về lai lịch của ông Sư Vãi Bán Khoai còn khá mơ hồ, thậm chí bất nhất và nhìn chung là còn khá sơ sài, chủ yếu là do người đời sau suy đoán ra. Việc để tóc, mai danh ẩn tánh, thậm chí giả dạng chính là cách để các nhà sư của phái Bửu Sơn Kì Hương vân du nhập thế dạy đời theo giáo pháp vô vi, bất chấp danh sắc.


2.2. Sấm vãn/sám giảng của ông

Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì “sấm” được hiểu là “lời sấm, đoán việc tương lai”. Còn “vãn”, theo Huình Tịnh Paulus Của, là “chuyện đặt có ca vần”, thường được gọi chung là “vè vãn: tiếng đôi, thường hiểu là vè”. Việt ngữ chánh tả tự vị của Lê Ngọc Trụ gọi đó là tiếng đôi (“chuyện vãn”), nghĩa là một hình thức tự sự. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, có các thể văn vần như: vãn ba (3 tiếng/câu), vãn tư (4 tiếng/câu), vãn năm (5 tiếng/câu)… Đặc biệt là thể vãn lục bát, tức truyện thơ Nôm (Sđd, tr. 62).

Đức Phật Thầy Thây An và hầu hết các vị kế truyền của phái Bửu Sơn Kì Hương đều đặt sấm vãn tiên tri thời thế, đoán trước những tai họa sắp xảy ra trong thời hạ ngươn mạt pháp để khuyên bá tánh làm lành lánh dữ, lo tu niệm để tránh nạn tai oan nghiệt. Những bài sấm vãn này thường ở dạng thơ lục bát dễ đọc dễ nhớ nên có sức lan tỏa và lưu truyền rất mạnh mẽ.

Do đặc điểm ngữ âm Nam Bộ nên có sự gần gũi, thậm chí lẫn lộn giữa “sấm vãn” và “sám giảng”, nhất là nội dung của hai thể tài này lại rất gần nhau, đôi khi thật khó phân biệt, ít ra là trong thời kì tôn giáo cứu thế ở Nam Bộ nửa sau thế kỉ XIX và môi trường của Phật giáo Bửu Sơn Kì Hương. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, “sám” (ksama) nghĩa là mong được tha tội, “giảng” là thuyết giảng kinh kệ cho mọi người nghe (Sđd, tr. 63).

Chính do sự gần gũi cả về ngữ âm lẫn ngữ nghĩa giữa sấm/sám và vãn/giảng mà đôi khi chúng được dùng hoán đổi cho nhau. Chẳng hạn, cuốn Sám giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ ngoài bìa 1 ghi là “Sám giảng” nhưng kể từ bìa lót trở đi thì đều ghi là “Sấm giảng”. Cá biệt, cuốn Sám giãn người đời [tôi gạch dưới – L.C.L.] của nhà in Thạnh Mậu nói trên là do viết sai chuẩn chính tả: lẽ ra phải viết là “sám giảng”. Riêng cuốn do tu sĩ Độc Giác Chơn Như biên soạn lại đặt tên là Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn [tôi gạch dưới – L.C.L.], xem như thêm một bước “đời thường hóa” nội dung của nó.

Trở lại nội dung sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai, hiện chưa có văn bản nào có thể xem là chính thức, rõ ràng và đầy đủ. Trong cuốn Sám giãn người đời, như đã nói trên, gồm có 11 bài nhưng chỉ có 3 bài có tên ông Sư Vãi Bán Khoai. Điều này chứng tỏ chưa chắc cả 11 bài đó là của ông Sư Vãi Bán Khoai. Vậy thì 8 bài còn lại là của ai? Câu hỏi này cần được tiếp tục nghiên cứu.

Riêng cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn do tu sĩ Độc Giác Chơn Như biên soạn thì lại không nói rõ biên soạn dựa trên nguồn tài liệu nào, trong lời nói đầu chỉ ghi ghi là: “Quyển sám này có quá lâu nên không còn truyền nữa. Hôm nay quý đạo tâm gặp lại quyển sám này còn hơn gặp lại vàng mà mình đã bị mất từ lâu… Đây cũng là một duyên lành tôi gặp được…”. Cuốn này cũng không đề năm biên soạn và nơi phát hành, cũng không cho biết lai lịch của người biên soạn. Điều đáng nói là giữa cuốn Sám giãn người đời và cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn vẫn có một số câu giống nhau, chẳng hạn:

Hạ ngươn như sợi chỉ mành,
Sao không tu niệm, tranh giành làm chi.
Phật trời tiên thánh sầu bi,
Cậy ông Sư Vãi mau mau xuống trần.
Sư Vãi vội vã ân cần,
Đi hết khắp bốn cõi trần giáo khuyên.
Thương ông Sư Vãi nhọc nhằn,
Sao thân chẳng biết mấy thân dưới trần.
Giáo khuyên khắp hết bốn phương,
Ai nghe thì lại mến thương vô cùng.
Như ai có muốn làm hung,
Thằng ông lại giả thằng khùng đi xin.
Lại còn giễu cợt chê cười,
Điên khùng nào phải thần tiên đâu là…
Thấy vậy thêm não thêm buồn,
Trở về núi Cấm tiên bồng thuở xưa.
Rồi tôi qua đến bên Tàu,
Bây giờ trở lại An Giang Nam thành.
Tôi đâu có ngại nhọc nhằn,
Cầu cho ai nấy làm lành tu thân.

(Sám giãng người đời, tr. 56 – 57;
Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 19 – 20).

Sự giống (và khác) nhau này chứng tỏ sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai có nhiều dị bản, và điều này cũng có nghĩa là nó đã đi sâu vào đời sống tinh thần vô cùng phong phú của nhân dân Nam Bộ.

Về nội dung, nhìn chung sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai kêu gọi lòng hiếu thảo, tình yêu nhân loài. Điều đáng lưu ý là ông luôn khuyến khích tu niệm bằng tâm đạo, chống tu hành hình thức, chạy theo âm thanh sắc tướng:

Phật không có biểu tụng kinh,
Gắng công khấn bái chúc nguyền mẹ cha.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 5)

Thậm chí ông chủ trương thực hành đúng theo giáo pháp vô vi của Đức Phật Thầy Tây An, tu chẳng cần chùa am, đình quán:

Chẳng cần chùa miễu đình am,
Thảo lư nhơn đức có hàng Quan Âm.
Chùa am rực rỡ chớ lầm,
Là nơi danh lợi giựt thầm nhân gian.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 25)

Ông cũng khuyên không nên thờ cốt tượng, chỉ thờ trần điều là đủ:

Tạo làm chi nhiều cốt với hình,
Rồi sau này xem thấy hãi kinh.
Những hình cốt thành hình ám hại,
Cốt với hình sau thành yêu quái.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 32)

Ông chủ trương tu không câu nệ vẻ bề ngoài, không cần mặc áo cà sa, cũng không cần cạo đầu:

Tu hành cũng khá lo âu,
Để tóc mới khỏi thảm sầu từ đây.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 40)

Đặc biệt, ông luôn tỏ thái độ gìn giữ đạo lí truyền thống của dân tộc bằng việc bài bác đạo Thiên chúa do người Pháp mang đến. Theo ông, đạo Thiên chúa tràn sang Việt Nam là dấu hiệu của thời hạ ngươn mạt kiếp:

Hạ ngươn thay dạ đổi lòng,
Cho nên theo đạo 13 bỏ mà tổ tông.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 9)

Như ai muốn ở thiên đường,
Đừng mê theo đạo quỷ dương làm gì.
Như mê theo đạo Huê Kỳ,
Thời là phải bỏ vậy mà tổ tông.
Người đời phải xét cân phân,
Theo đạo nước khác có công danh gì.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 14)

Dù nội dung bao trùm sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai là tiên tri thời thế – thời hạ ngươn đầy khổ đau, đen tối, lầm lạc – nhưng nó vẫn không vì thế mà bi quan yếm thế. Đằng sau những cảnh tối tăm ấy, ông Sư Vãi Bán Khoai cũng chỉ ra tương lai sáng sủa nước Việt Nam nếu người dân biết tu tỉnh để sống còn mà bước qua thời thượng ngươn thánh đức:

Nước Nam như thể cái lầu,
Ngày sau các nước đâu đâu lại tùng.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 9)

Chừng nào Bảy Núi thành vàng,
Thời là bá tánh an nhàn tấm thân.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 15)

Chừng nào núi Cấm hóa lầu,
Thời là bá tánh đâu đâu thái bình.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 18)

Ông cũng tin tưởng vào sự phục hưng của Phật giáo Việt Nam:

Bấy lâu Phật ở nước Tần,
Bây giờ Phật lại trở lần về Nam.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 25)

Niềm xác tín này có lẽ bắt đầu từ Đức Phật Trùm (tức ông Đạo Đèn). Bởi vì Đức Phật Trùm vốn là người Cao Miên (ta gọi là nước Tần), khi chưa tỏ ngộ thì cạo đầu, nói tiếng Miên, nhưng khi đã tỏ ngộ thì lại để tóc, ăn mặc như người Việt và nói tiếng Việt, không nói tiếng Miên nữa, thậm chí ông còn bảo vợ con phải sống theo phong tục người Việt. Và ông tự nhận:

Tuy là phần xác của Mên [Miên],
Hồn Trùm của Phật xuống lên dạy đời.

(Thất Sơn mầu nhiệm, Sđd, tr. 89)

Tóm lại, Sư Vãi Bán Khoai chính là ông đạo kế thừa giáo pháp Bửu Sơn Kì Hương của Đức Phật Thầy Tây An – nét độc đáo có một không hai của Phật giáo phương Nam: vô vi ẩn dật, vân du dạy đời và cứu người, đặc biệt là đặt sám giảng khuyên người đời tu niệm, làm lành lánh dữ và luôn tha thiết kêu gọi tu tâm:

Khoai lang ăn nấu ăn chiên,
Bà con hãy đến tại thuyền mà mua.
Bao nhiêu cứ lựa cho vừa,
Tiền nong cũng chẳng hơn thua làm gì?
Ở đời lắm chuyện li kì,
Ăn khoai ăn đá đều tùy cái Tâm.

(Sám giãng người đời)

Có điều, lai lịch ông Sư Vãi Bán Khoai không rõ ràng, và giữa ông với Phật Thầy Tây An (1807 – 1856), đức Phật Trùm (? – 1875) đức Bổn sư Ngô Lợi (? – 1909), và Đức Huỳnh giáo chủ (Huỳnh Phú Sổ, 1918 – 1947) có nhiều điểm khá tương đồng. Thậm chí, trong Sám giảng khuyên người đời tu niệm, Đức Huỳnh giáo chủ có kể việc hai thầy trò nhà sư giả dạng vân du khắp nơi, biến hóa thành đủ thân phận để tùy duyên hóa độ bá tánh và cuối bài sám giảng ông lại cho biết bóng gió:

Đừng ham nói nọ nói này,
Lặng yên coi thử Điên này là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân chúng chẳng nài nắng mưa.

(Sám giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Sđd, tr. 34)

Tín đồ đạo Bửu Sơn Kì Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Hòa Hảo tin rằng Đức Phật Thầy Tây An đã nhiều lần chuyển kiếp qua Đức Phật Trùm, Đức Bổn sư Ngô Lợi, ông Sư Vãi Bán Khoai và cuối cùng là Đức Huỳnh giáo chủ. Đây là vấn đề tâm linh huyền bí thật khó mà kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm chuyển kiếp theo nghĩa truyền nhân, nghĩa là các vị nói trên truyền thừa nhau để thực hiện pháp chánh truyền của giáo phái Bửu Sơn Kì Hương mà Phật Thầy Tây An đã vạch ra. Và, nếu quả như vậy thì không có một ông Sư Vãi Bán Khoai cụ thể nào, mà đó chính là hiện tượng Sư Vãi Bán Khoai được nhiều người, đồng thời hoặc tiếp nối, đảm nhận như một sứ mệnh thiêng liêng được trao truyền từ Đức Phật Thầy Tây An.

Công Lý

GHI CHÚ:



1. Hai danh từ “mạt pháp” và “hạ ngươn” ở Nam Kì thường được dung lẫn lộn nhau do quan niệm “Tam giáo đồng qui”.

2. Sách gồm 52 trang, không ghi nơi phát hành, năm phát hành và lai lịch của người biên soạn.

3. Giọng Nam Bộ nói “vãi” với “vải” như nhau [chú thích của L.C.L.].

4. Thất Sơn mầu nhiệm, Nxb Từ Tâm, SG, 1972, tr. 101 – 102.

5. Nước Tần chính là nước Cao Miên, nay là Campuchia. Gọi là Tần vì Cao Miên nằm phía tây Nam Kì lục tỉnh cũng như nước Tần thời Chiến quốc nằm ở phía tây vùng Trung Nguyên của Trung Quốc.

6. Tức cù lao Ông Chưởng, nay thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

7. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Sám giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, ban Phổ thông giáo lý Trung ương ấn hành, 1971, tr. 34.

8. Dẫn theo Huỳnh Ngọc Trảng, Sđd, tr. 59.

9. Trần Mạnh Thường cb, Nxb văn hóa Thông tin, 1999, tr. 317.

10. Vì chính ông Sư Vãi Bán Khoai tự xưng như vậy:

Khùng này Khùng Phật Khùng Trời,
Cho nên Khùng biết việc đời hết trơn.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 30)

11.

Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
Bá gia khổ não vậy thì từ đây.

(Sám giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Sđd, tr. 11).

12. Sám giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Sđd, tr. 34.

13. Hiểu là đạo Thiên chúa.


TÀI LIỆU THAM KHẢO



1. Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005.

2. Dật sĩ và Nguyễn Văn Hầu, Thất Sơn mầu nhiệm, Nxb Từ Tâm, SG, 1972.

3. Độc Giác Chơn Như, Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, không đề năm xb, nơi xb.

4. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Sám giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Ban Phổ thông giáo lý Trung ương ấn hành, Long Xuyên, 1971.

5. http://vi.wikipedia.org

6. Huình Tịnh Paulus, Đại Nam quấc âm tự vị, Imprimerie REY, CURIOL & Cie, SG, tập 1: 1895, tập 2: 1896.

7. Huỳnh Ngọc Trảng cb, Sổ tay hành hương Đất phương Nam, Nxb TP.HCM, 2002.

8. Huỳnh Ngọc Trảng, “Ký tả một bài về hòa thượng Huệ Lưu”, Nguyệt san Giác ngộ số 136 (tháng 7/2007).

9. Lê Ngọc Trụ, Việt ngữ chánh tả tự vị, Nxb Khai trí, SG, 1972.

10. Trần Mạnh Thường cb, Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999

Sưu tầm từ trang  http://www.tamduyen.com
« Last Edit: April 14, 2015, 06:26:01 PM by admin »